Xem tướng chân phụ nữ –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
![]() |
![]() |
| ► Bạn đã biết: Mệnh Kim hợp màu gì, mệnh Thổ hợp màu gì, mệnh Hỏa hợp màu gì? |
![]() |
![]() |
Mua nhà không xem phong thủy, tiền thì mất mà tật vẫn mang| => ## cung cấp công cụ tra cứu ngày sinh con năm 2016 đẹp nhất và hợp tuổi bố mẹ |
Những đồ vật không ngờ lại hút vận tiểu nhân xui rủi vào ngườiNước nói riêng và bể cá nói chung có tác dụng điều hòa âm dương, tăng cường sinh khí và thúc đẩy khí Cát hoặc khí Hung của hướng đó. Nhiều người yêu thích cá cảnh vì nó đẹp, tạo sinh khí cho ngôi nhà; tuy vậy, có một số điều bạn cần biết để có thể vừa sở hữu một bể cá như ý, vừa đạt được những quy tắc phong thủy mà qua đó mang lại tài lộc cho gia đình. Về số lượng cá nuôi, thì nên nuôi theo số ứng với ngũ hành trong tương sinh và tương khắc Theo đó những người mạng:

Nguyên tắc để chọn cá nuôi là theo số Ngũ Hành của mình, tuy vậy chỉ nên chọn m – 1 con có màu sắc thuận theo Hành, và 1 con có màu sắc nghịch/chống lại Hành của mình. Ví dụ, người mạng Kim nên nuôi 9 con cá, 8 con màu Trắng (màu của hành Kim), và 1 con màu Đỏ (màu của hành Hỏa khắc hành Kim). Lý do vì cực Dương thì hóa Âm, và ngược lại. Cần phải tối ưu hóa cơ hội và cân bằng âm dương để mang lại lợi ích tốt nhất. Cần lưu ý thêm một số điểm như sau:
Dưới đây là một ví dụ của một bể cá đẹp nhưng sai nguyên tắc, vì nằm sát sofa và cao hơn đầu người, không tốt:

![]() |
![]() |
![]() |
| Tý | Sửu | Dần |
![]() |
![]() |
![]() |
| Mão | Thìn | Tị |
![]() |
![]() |
![]() |
| Ngọ | Mùi | Thân |
![]() |
![]() |
![]() |
| Dậu | Tuất | Hợi |
Alexandra V (theo VV)
Trước khi cưới nếu ngẫu nghiên mơ thấy giao hợp là hiện tượng bình thường, sau khi cưới sẽ hết.
Nhưng trước khi cưới nếu nhiều lần nằm mơ thấy giao hợp hoặc thấy giao hợp nặng nề thì sẽ ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng sau này.
Đây là một đoạn trong hồi thứ 14 của quyển Kim ốc mộng (Giấc mơ vàng trong phòng): Đòi Mãn Thanh, Lê Kim Quế chỉ khoác trên người chiếc áo mỏng, nằm trằn trọc mãi. Bất giác thấy da thịt dậm dật, tim đau thắt, hai mắt mờ, rồi ngủ đi.
Bỗng nàng thấy một chàng thư sinh nho nhã, mặt trắng, khoác áo trắng tiến đến trước mặt nàng mà hỏi: “Thưa tiểu thư, tôi đợi cô đêm nay thật là nhân duyên, bây giờ mới có thật trong tay”.
Trong giấc mơ, Lê Kim Quế nhỏ nhẻ rồi không tự chủ được bản thân, tứ chi bải hoải làm theo ý chàng trai. Kim Quế thật thỏa mãn, định hỏi anh ta nhưng không mở miệng nổi.
Đến lúc gà gáy, nàng tỉnh giấc. Chỉ thấy âm dịch đầm đìa, lưng đau, đầu nhức, hai mắt khó mở, trời sáng rõ mà không thể dậy nổi”.

Tạp chí Đông y Tứ Xuyên có đăng:
“Cô Trương, 24 tuổi, ngày 16-5-1979 đi khám bệnh, nói rõ là trước ngày cưới thường nằm mơ nhiều, mất ngủ, đêm đổ mồ hôi. Trong giấc mơ cô thấy mình giao hợp với chồng chưa cưới. Sau khi cưới độ nửa tháng cô vẫn nằm mơ thấy giao hợp, lòng rất lo sợ”.
Thầy thuốc cho rằng bệnh nhân trước ngày cưới tư tưởng diễn biến vô cùng, muốn nhiều mà chẳng được, không thỏa mãn lòng dục nên sinh ra mơ. Sau khi cưới giao hợp quá nhiều, vì thế cả trước lẫn sau ngày cưới đều có những giấc mơ giao hợp làm cho tâm, tì bị tổn thương.
Phương thuốc điều trị là:
Thang Quỷ thần có gia giảm. Dương huyết an thần điều hòa dinh dưỡng, để dương ổn cố, âm giữ được, tinh không xuất nữa.
Tạp chí Các vụ án Đông y Hồ Nam có đăng:
“Cô Trương, 30 tuổi, giáo viên tiểu học, năm 1970 mắc bệnh, buồn rầu khóc lóc không ngừng, như có ẩn tình khó nói. Sau đó mới thổ lộ: Trước khi cưới nằm mơ giao hợp với người khác, sau khi cưới lúc giao hợp với chồng, âm đạo khô không ra nước, đau không chịu nổi.
Trường hợp này cần giao hợp bình thường, nếu âm dương không điều hòa, tâm và thận không điều hòa thì phải chữa trị cho điều hòa âm dương”.
Các số liên quan đến giấc mơ:
Làm tình: 19 – 69
Ân ái: 25 – 75
Theo phong thủy, một cửa ngõ lưu thông khí tốt sẽ mang đến nhiều điều tốt lành cho ngôi nhà, và lối đi chính là cầu nối để đưa nguồn năng lượng tích cực vào trong nhà. Vì thế, trước hết hãy giữ gìn cổng, cửa nhà luôn sạch sẽ, nếu thường xuyên sơn mới và giữ gìn được màu sơn tươi sáng như lúc mới xây thì càng tốt.
![]() |
| Bố trí lối vào nhà hợp phong thủy mang lại vận may, tài lộc. Ảnh minh họa |
Hãy tích cực mở cửa, mở cổng mỗi ngày, thay vì đóng cảnh cửa im ỉm, vì điều đó sẽ làm cho ngôi nhà thêm lạnh lẽo, u ám, đồng thời kìm hãm sự thăng tiến, phát triển tiền tài sự nghiệp của bạn. Một ngôi nhà sáng sủa, thông thoáng không chỉ đem lại sức khỏe cho các thành viên trong gia đình mà còn mang đến vận may về tiền tài.
Cho dù ngôi nhà của bạn có lối vào rộng rãi hay chỉ là những bậc tam cấp từ đường, cổng, hoặc từ sân vào nhà… bạn cũng cần ghi nhớ những nguyên tắc sau:
- Lối vào nhà không nên là một đường thẳng để tránh tà khí, thậm chí sinh khí dồn vào nhà quá mạnh cũng đều không tốt. Lối vào nên có độ uốn lượn nhẹ nhàng. Với những ngôi nhà phố không có không gian để tạo lối đi uốn lượn thì bạn hãy đặt một vài hòn đá hai bên theo hình zích zắc… hoặc đặt một vài chậu cây để giảm bớt tốc độ của dòng khí.
- Nếu được, hãy làm lối đi rộng rãi, sáng sủa và bằng phẳng để hấp dẫn sinh khí. Nếu nhà chật không có lối đi thì bạn hãy làm bậc tam cấp không quá dốc. Với những lối vào quá hẹp thì không nên đặt chậu hoa, cây cảnh hai bên.
- Nếu trồng cây cối, chậu hoa...ở lối vào nhà nên cắt tỉa lá thường xuyên, cây cối um tùm sẽ là vật cản sinh khí vào nhà. Nếu đặt một số đá trang trí thì không đặtnhững tảng đá quá dày…
- Lối vào nhà phải có bề ngang bằng nhau, nếu rộng trước cửa chính mà hẹp phía cổng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp và giới hạn về tài chính.
- Lối vào nhà là những bậc cấp thì tốt hơn là trong cao, ngoài thấp. Trong trường hợp nhà thấp hơn mặt đường người chủ sẽ vất vả, khó vươn lên như ý muốn… cần phải đặt ngọn đèn phía sau nhà để “nâng” ngôi nhà lên cao. Ngược lại nhà quá cao so với đường, lối lên quá dốc, thì phải trồng những chậu hoa hai bên để giữ sinh khí lại, hoặc đặt vài ngọn đèn phía ngoài đường để phản hồi sinh khí.
(Theo Báo Xây dựng)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Bàn thờ là nơi thể hiện sự thành kính của con cháu với gia tiên, dâng hoa cúng cần có thái độ kính cẩn, thể hiện nét đẹp hiếu hạnh của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về.
Không nên bày hoa giả, quả giả trên bàn thờ. Có nhiều người cho rằng, bày “đồ giả” lên bàn thờ sẽ mang tội bất kính. Tuy nhiên, theo Đại đức Thích Thanh Hải, việc bày biện các đồ giả trên thì không có gì là bất kính hay có lỗi cả. Có lỗi hay không là ở nơi tâm ý, thái độ và việc làm của chúng ta chứ không phải ở nơi đồ vật. Điều quan trọng là ở nơi tấm lòng thành kính của Phật tử. Nếu như Phật tử dâng cúng những phẩm vật sang trọng, đẹp đẽ, giá trị mà không có lòng chí thành thì đó mới là mất trang nghiêm, bất kính. Tuy vậy, trong việc thờ phụng thì giả tạo cũng không nên. Những đồ bày trên bàn thờ là biểu hiện của tấm lòng nên sẽ không tốt khi dùng lễ giả để mong biểu thị tấm lòng chân thật. Trong phong tục thờ cúng của người Việt, ngoài những dịp lễ tết, thì mùng 1, ngày rằm, ngày cúng giỗ,...cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Dâng hoa cúng có ý nghĩa dâng những điều thiện lành, tốt đẹp đã làm được trong cuộc sống, như là những đóa hoa tươi thắm, thơm tho dâng cúng chư Phật, thánh, gia tiên, là hành động thành kính, bày tỏ tâm biết ơn dù giá trị vật chất không nhiều. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết, việc bày biện những loại hoa trên bàn thờ cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong phong thủy.1, Hoa nhài là một trong số loại hoa không nên cắm trên ban thờ.
Xưa đĩa hoa cúng có nhiều bông hoa các loại (bông huệ trắng muốt thơm ngát, bông ngọc lan thơm nồng, nhánh hoàng lan thơm mềm mại, nhánh hoa sói, bông hoa cúc, đóa thược dược)… tùy theo mùa. Hoa rất thơm, cúng xong các mẹ thường để khô, đến lần cúng sau mới thay hoa mới.
Hoa dâng cúng nên chọn hoa thơm, tên đẹp, tính chất hoa đẹp. Hoa bây giờ có hàng trăm loại, tùy mùa mà dâng hoa cúng khác nhau, nhưng cơ bản vẫn là cúc, hồng, sen, huệ… Nhiều loài hoa, nhưng chỉ có một số loại dùng để thờ cúng như hoa hồng, hoa huệ dùng để dâng cúng, còn hoa nhài chỉ để chơi và tẩm ướp trà… Do đó, cần biết để chọn hoa cúng phù hợp mới trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên.
Hoa cúng lễ Phật ngoài mẫu đơn nên chọn hoa có màu vàng và đỏ - là những màu tượng trưng cho nhà Phật như cúc vàng, hồng đỏ (hồng không chọn hồng phơn phớt hoặc màu khác). Hoa cúc, hoa hồng không nên chọn những hoa nở to, nên lựa kỹ từng bông. Hoa thờ gia tiên ngày Tết nên cho vào nước vài viên thuốc B1 để có dinh dưỡng nuôi hoa tươi lâu.
2, Hoa dâm bụt có màu đỏ, bông cũng đẹp nhưng không dùng thờ cúng vì có chữ “râm” đằng trước. Theo truyền thuyết cho rằng, hoa dâm bụt thường dùng để nối về những người con gái có lối sống không đàng hoàng, lẳng lơ không chung tình, chung thủy , hoa mọc bên hàng rào, ai đi qua cũng dễ ngắt dễ hái, đẹp nhưng không bền. Hoa phù dung tuy tên đẹp nhưng mau tàn như câu "hoa phù dung sớm nở tối tàn", có tích không hay nên cũng không được dùng
3, Với hoa ly rực rỡ, thơm ngát không nên dâng lễ Phật nhưng có thể dâng gia tiên và nơi thờ thánh (nhất là nơi thờ thánh Mẫu). Một số người kiêng dùng hoa ly (vì sợ ly tán, chia ly) ở ban thờ gia tiên.
Hoa ly thơm, đẹp nhưng nhiều người lại kiêng kỵ vì sợ "ly tán, chia ly"
4, Hoa phong lan đẹp, bền được nhiều người mua cắm ban thờ dịp Tết, nhưng dâng Phật không nên dùng phong lan, vì có nhiều màu rực rỡ, chữ “phong” gần nghĩa với chữ phong tình, phóng túng.
5, Hoa địa lan thơm, không rực rỡ (chỉ có màu xanh, vàng), lại trồng ở đất (khác phong lan) nên không có tính chất khác. Dâng Phật, thánh, gia tiên đều được.
6, Hoa lan móng rồng (phía Nam gọi là lan cua) tuy thơm nhưng không dùng để thờ cúng bởi cánh hoa giống móng rồng và tên gọi cũng không đẹp.
7, Hoa đại (sứ, chămpa) thơm, màu đẹp, nhưng không dùng cúng trên bàn thờ vì giống bộ phận sinh dục nữ, còn theo tích Lào thì là chuyện tình yêu trai gái nên cũng không dùng.
Ngoài ra, có những loại hoa không được đem vào cả lễ Phật, thánh và gia tiên, ví dụ, hoa nhài tuy là biểu tượng trong sạch, tinh khiết nhưng trong dân gian là loại hoa không đứng đắn, hay gặp nghịch cảnh (hoa nhài cắm bãi cứt trâu).
8, Hoa cúc áo (hoa cứt lợn), tuy bông hoa xinh xắn, màu đẹp, chữa bệnh rất tốt, nhưng chỉ cắm chơi được chứ không thể đặt lên ban thờ nơi có thần linh và gia tiên bởi cái tên của nó không đẹp.
9, Không nên bày hoa cúc vạn thọ trên bàn thờ
Cúc vạn thọ tên hay, màu vàng, ở miền Trung hay dùng vì dễ trồng dễ sống, có màu vàng tươi tắn, sự may mắn và thịnh vượng. Cúc vạn thọ mang ý nghĩa của sự đau buồn, nổi thất vọng, lòng ghen ghét. Ngoài ra nó còn tượng trung cho sự trường tồn vĩnh cửu. Trong tiếng Hy lạp cổ, tên của nó có nghĩa là “bông hoa của người chết” vì thế nó được sử dụng trong tín ngưỡng, để trang trí trên bàn thở và trồng trong các nghĩa trang, lăng mộ. Nhưng ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều địa phương lại không đưa lên ban thờ vì có mùi hôi.
Hoa cúc vạn thọ có mùi hôi đặc trưng
10. Những loại hoa giả.
Trong nhà, bàn thờ Phật cần nhất chữ tâm và chữ tịnh, dâng hoa cúng không nên kết hợp nhiều loại vì sẽ giảm mất sự thanh thoát. Bàn thờ gia tiên cũng không nên cúng quá nhiều các loại hoa cùng lúc vì sẽ khiến bàn thờ mất thẩm mỹ. Tùy vùng, tùy nơi mà linh hoạt dùng hoa, không cố chấp quá, cũng không nên thoải mái, phóng túng quá (như phía Nam có nơi dùng hoa cúng là hoa điệp màu vàng, trắng, đỏ), có địa phương hiếm hoa còn cắt cây chuối non, đem vào cắm lục bình thay hoa.
Thương quan gặp quan thì không những khắc chồng mà thân còn vất vả, nếu không làm hại chồng thì cũng là người bệnh hoạn, người ít phúc đức, cuộc sống không yên ổn.
Thiên can thấu quan sát , địa chi không có quan sát lại còn gặp đất tử tuyệt, đó là người làm suy kiệt chồng, cuối cùng đi làm vợ lẽ.
Nữ tài phải ít, nếu tài nhiều thì dâm loạn.
Tài và quan cả hai đều có thì khi hành vận gặp cả quan lẫn kiếp tài sẽ khắc chồng, qua vận mới nên lấy chồng
(hoặc nên lấy chồng muộn).
Thương quan trùng trùng tất sẽ khắc chồng và tính cách ngang bướng.
Nữ mà quan tinh nhiều thì làm hại chồng.
Nữ mà thực quan ít thì chồng suy, con vượng.
Nữ vận hành đến đất tỉ kiếp thì làm trở ngại chồng, khắc cha.
Quan tuyệt hưu tù thì cô quả, đơn đọc.
Nữ có kình dương là khắc chồng, chắc chắn sẽ tái giá.
Nữ Tứ trụ gặp thương nếu lấy chồng gần thì sẽ khắc chồng, gặp xung, kiêu, ấn nếu không ly dị thì dễ chết.
Nữ chỉ có 1 quan tinh là tốt, nhiều quan tinh là tượng tái giá lấy chồng nhiều lần.
Kiêu, ấn trùng trùng là người vợ dễ tử biệt sinh ly.
Trong Tứ trụ không có quan tinh, không làm vợ lẽ thì cũng là vợ kế.
Tài quan nhập mộ là người không là hại con thì cũng khắc chồng.
Tài quan lâm tử tuyệt là người phụ nữ cô quả đói nghèo.
Tài quan đều rơi vào tuần không vong là gây hại cho chồng, phải bỏ đi phương xa.
Trong Tứ trụ có cả kiêu thực cùng với thương quan là hại con, khắc chồng.
Mậu sinh vào ngày quý là quan, tuổi trẻ đã lấy chồng già. Trong Tứ trụ nếu gặp cả hợi, dậu thì không lấy chồng là tốt nhất.
Nữ không có tài, quan, thực ấn thì người đó cuộc sống không vất vả cũng là làm nghề ca kĩ.
Mệnh nữ trong Tứ trụ đinh gặp nhâm nhiều đó là người dâm loạn.
Phu tinh vượng, tử tinh suy, tất khắc con ; tử tinh vượng. Phu tinh suy, tất làm hại chồng.
Trong Tứ trụ chỉ một phu tinh, hai tài tinh thì gọi là người tranh chồng ; nếu chính tài vượng, thiên tài suy thì mình làm vợ cả, người kia làm vợ lẽ, ngược lại là mình làm vợ lẽ.
Phu tinh không vượng lại còn bị khắc chế là người lấy chồng muộn, hoặc lấy chồng bất minh, lén lút.
Tham tài, làm hỏng ấn là người phụ nữ bất lương ( tài nhiều, ất ít).
Tài tinh nhiều là khắc chồng : thân ở vượng địa là giàu mà khắc chồng con.
Tứ trụ có quý nhân còn gặp trạch mã là người đẹp, phong lưu, khéo.
Người hợp quý nhiều thì người đẹp, đa tình nhưng thấp hèn.
Ðào hoa mờ, mộc dục rõ không là người đi tu cũng là người ở chùa.
Tí, ngọ, mão, dậu đều có là người ham mê tửu sắc, hoang dâm. Dần , thân, tị, hợi đều có là người phụ nữ thông minh.
Ấn tin nhiều là người đó không bị chết thì cũng có cảnh chia ly.
Mệnh nữ nhiều là người đó không bị chết thì cũng có cảnh chia ly.
Mệnh nữ có quan tinh khi hành đến quan vận thì sẽ khắc chồng.
Trong Tứ trụ kim thanh, thủy lạnh là người khó lấy chồng.
Thổ táo, hỏa mạnh thì phòng không lạnh lẽo.
Quan nhiều, ấn nhiều là người cô đơn.
Tài suy, ấn tuyệt là lấy chồng sớm ( tảo hôn).
Tứ trụ gặp tam hình, gặp quan quỷ là khắc con hại chồng.
Thủy tụ vượng là người con gái lẳng lơ.
Lục hợp cùng với tam hình là người hại chồng, làm bại gia nghiệp.
Phá tài, phá ấn là người khó lấy chồng.
Xung quan hợp thực ( thần ) thì hình phạt chồng, sống nương tựa vào con.
Quan tinh được lệnh mà gặp thương là người làm ni cô.
Trụ ngày là kình dương là gặp sát là người không làm vợ lẽ thì cũng đi tu.
Chỗ ngang vai trong lục thân mà lộ ra chị em tất có chuyện tranh chồng.
Trong Tứ trụ toàn tỉ kiếp, quan địa thì chắc chắn có chuyện tranh chồng.
Phu tinh vượng, quan tinh được lệnh, kiêu thần mạnh thì hại con.
Năm và ngày tương xung thì không nên sinh đẻ.
Mệnh đào hoa là người phụ nữ rất dâm.
Thân vượng, quan tinh hung thì người đó không đi tu cũng làm nghề ca kĩ.
Thực thần gặp kiêu thần nhiều, can của năm sinh là thương quan, giờ là kình dương , hình xung khắc hại, lưu niên và các vận xung hợp kiêu thần, kình dương thì nhất đinh sinh đẻ khó khăn, trắc trở.
Phạm tam hình lục hợp, vong thần kiếp sát, cô thần quả tú là người khắc chồng, khắc con.
Nữ gặp quan đế vượng là người còn trinh nguyên.
Quan tinh gặp tuần không vong, ngày sinh vô khí là người không có chồng, nếu có thì cũng luôn luôn sợ chết chồng.
Kim thần gặp giáp là người khắc chồng.
Người trong Tứ trụ có thân tí thìn gặp nhâm quý là người không tiết hạnh.
Người đào hoa gặp kiếp sát là người cô độc, dâm ô, phá hại gia nghiệp, trẻ thì làm nghề linh tinh, già thì cô đơn nghèo khổ.
Hàm trì và đại hao cùng cung với nhau là người độc ác, gian dâm.
Người gặp mão dậu nhiều là người hay sẩy thai, khắc con. Hay đau nhức về bệnh máu.
Phu tinh đắc địa là người nhiều con.
Nhất đóng ở thương quan là người hay chửi chồng. Người như thế nên lấy chồng già làm mẹ kế hay vợ lẽ.
Trong Tứ trụ tân là quan tinh, có sửu là phu ( chồng ) kho nếu gặp nhiều tân là người đã chết chồng.
Nữ gặp tí ngọ mão dậu là người theo trai làm vợ .
Nữ ngày giờ sinh gặp khôi canh là hại chồng khắc con.
Nữ mệnh thủy gặp thổ nhiều là người sống cô đơn.
Cung phu có khắc là lấy vợ muộn, cung thê có khắc là lấy chồng muộn.
Nữ phạm thương quan, nếu không lấy chồng xa thì sẽ khắc chồng, gặp xung khắc kiêu thần nếu không chia tay thì khó sống lâu.
Nữ phạm thượng quan, nếu không lấy chồng xa thì sẽ khắc chồng, gặp xung khắc kiêu thần nếu không chia tay thì khó sống lâu.
Nữ phạm thương, thiên, ấn thì không lợi cho chồng con.
Quan sát nhiều mà không gặp tài là vợ không kính chồng. Cướp quyền chồng.
Quan tuyệt, hưu tù là người cô đơn quả tú.
2. LY HÔN
Ví dụ 1. Khôn tạo

Tháng 3 năm 1984 người phụ nữ này nhờ đoán. Tôi xem trong Tứ trụ thấy kiêu thương tỉ kiếp đều có, lại còn thêm âm dương sai lệch, trụ ngày có khôi canh, đại vận lại gặp khôi canh nên chắc chắn phải kết hôn hai lần. Năm ất tị 1965 đúng là thương quan gặp thương quan có hại, vì kỉ thổ quan tinh ở vượng địa, chồng khoẻ không đến nỗi chết cho nên đoán ly hôn. Quả nhiên đúng thế.
Ví dụ 2. Khôn tạo

Tứ trụ này thương quan hai rõ ba mờ, thương vượng nhiều, chắc chắn là khắc chồng. Quả nhiên năm 1975 cô đó ly hôn. Năm 1975 cô ta 41 tuổi, hành đại vận giáp tí, gặp lưu niên ất hợi, kiêu ấn đều vượng, đó là năm ly hôn, chính ứng câu " Kiêu ấn trùng trùng là người phụ nữ tử biệt sinh ly".
Ví dụ 3: Khôn tạo

Tháng 2 năm 1985 cô Mai nhờ tôi đoán. Xem trong Tứ trụ thấy thân ở đất đế vượng, thân vượng, kiêu ấn lại nhiều, kình dương nhiều chắc chắc là người phụ nữ khắc chồng, tái giá. Cho nên đoán : năm nhâm tí 1972 có ly hôn. Sự thực đúng thế
Ly hôn năm 1972 là vì đại vận nhâm dần, lưu niên là nhâm tí, tiểu vận là ngang vai, thân gặp đế vượng tất khắc chồng, lại kình dương trung lặp với tuế quân, "kình dương gặp tuế quân là đột nhiên hoạ đến". Nếu không ly hôn thì nhất định gặp hoạ.
Ví dụ 4. Khôn tạo

Mùa thu năm 1985 cô Trương đến nhà nhờ đoán. Tôi thấy trong Tứ trụ thân vượng, sát vượng là vợ chồng xung khắc, cung phu sửu thổ là dậu sửu bán hợp , lục hợp với tí sửu là cuộc hôn nhân trước nóng sau lạnh, trước hợp sau tan. Nên năm 1972 ly hôn, năm 1978 ly hôn lần thứ hai.
Ly hôn năm nhâm tí 1972 là vì : đại vận đinh sửu ngang vai khắc chồng, lưu niên nhâm tí chính là hai sửu hợp với 2 tý, tức là chồng hợp với người khác. Năm 1978 lại ky hôn vì đại vận mậu dần là đất thương quan, lưu niên mậu ngọ là chỗ thương quan, "thương quan vượng địa là người khắc chồng".
Ví dụ 5. Khôn tạo

Tháng 11 năm 1988 khi tôi đang giảng bài ở Nam Kinh có một vị đại sứ nước ngoài nhờ tôi đoán vận cho ông ta và người nhà. Khi tôi sắp xếp Tứ trụ con gái của ông, thấy trong Tứ trụ tỉ kiếp rất nhiều, cung phu tương hình nên khắc chồng rất nặng. Do vậy đoán năm 1975 nhất định phải ly hôn. Quả đúng tháng 5 năm 1975 vừa lấy chồng thì tháng 7 đã ly hôn.
Năm 1975 ly hôn là vì: trong Tứ trụ rất nhiều tỉ kiếp, điều đó ứng với câu : " Tỉ kiếp trùng trùng là chồng không còn tình nghĩa với mình".
Ví dụ 6 . Khôn tạo
Tháng 7 năm 1987, tôi đến núi Phổ Ðà là một thắng cảnh của Phật giáo có 1 nữ thanh niên biết tôi đã nhờ tôi đoán giúp. Tôi thấy trong Tứ trụ, tỉ, kiếp mỗi bên 1 nửa, cung chồng khắc thân đó là tượng người phụ nữ lấy chồng muộn nhưng lại sớm chia tay. Do đó tôi nói với cô ta: cô lấy chồng muộn, nhưng không suôn sẻ. Theo Tứ trụ của cô thì năm kết hôn cũng là năm ly hôn. Năm 1986 có tai hoạ đó, cô ta thừa nhận : đúng như thế!
Năm 1986 ly hôn là vì : gặp đúng đại vận bính thìn, lưu niên bính dần là ấn thủ vượng địa cho nên có việc ly hôn. Ðúng là "tỉ kiếp trùng trùng là kết hôn 2 lần".
Trong 2 ví dụ 4 và 5, tỉ kiếp rất nhiều, nhưng là hai cô ở hai nước khác nhau thế mà tai hoạ trong hôn nhân lại giống nhau nên có thể nói Tứ trụ dự đoán học đoán ở đâu cũng đúng.
Ví dụ 7. Khôn tạo
Ðây là Tứ trụ của một diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Trung Quốc, mùa xuân năm 1990 khi tôi ở Thượng Hải đã khẩn thiết nhờ tôi đoán. Tôi xem trong Tứ trụ không thấy quan tinh, tức là "không phải là vợ lẽ thì cũng là vợ kế, nên ly hôn tái giá là điều chắc chắn". Xem đại vận thấy gặp thương quan, lưu niên bính dần lại là lúc "thương quan gặp quan" nên khắc chồng, do đó tôi nói: năm 1986 có chuyện ly hôn, nếu không ly hôn thì chồng chết. Cô ta nói: năm 1986 đã ly hôn. Xem ra đó là điều may mắn vì đã cứu được một sinh mạng.
Ví dụ 8. Khôn tạo
Tháng 4 năm 1991 khi ở Singapo người phụ nữ này nhờ tôi đoán. Trong Tứ trụ quan tinh hai lần lộ ra, thương quan mở, năm giáp tí 1984 thì ba quan hội ở vượng địa là người vợ có rắc rối trong hôn nhân, lại gặp phải "thương quan gặp thương quan là sẽ có tai hoạ bất ngờ ập đến", cho nên tôi đoán cô ta năm 1984 phải ly hôn. Lời đoán rất ứng nghiệm.
3. MẤT CHỒNG
Ví dụ 1 . Khôn tạo
Mùa xuân năm 1984, một thầy thuốc nhờ tôi đoán. Trong Tứ trụ tỉ kiếp nhiều lại gặp đế vượng, phu tinh tí thuỷ lại gặp hưu tù, thương quan laị vượng, tức là phu tinh có khắc không có sinh nên chắc chắn là chết. Do đó tôi đoán chồng chết năm 1969 tức là năm kỉ dậu thương quan. thực tế đúng như thế.
Ví dụ 2 . Khôn tạo
Mùa đông năm 1986 một diễn viên kịch nói nổi tiếng của Trung Quốc đến nhà nhờ tôi đoán. Trong Tứ trụ của bà có "Tứ trụ thuần âm là tượng khắc chồng tái giá", "thực kiêu cũng gặp thương quan là nếu có chồng thì chồng chết", nên tôi đã đoán : nếu chồng bà không chết năm 1970 thì chết năm 1971. Bà nói: đúng, chồng mất năm 1970.
Chết năm 1970 là vì đúng với câu : "Kiêu ấn trùng lặp là người phụ nữ có tử biệt sinh ly".
Ví dụ 3. Khôn tạo
Tháng 1 năm 1986 có 1 phụ nữ thông qua Lô Chí Tần nhờ tôi đoán vận. Tôi thấy trong Tứ trụ của bà, thương quan trùng lặp nhiều nên nói: cuộc đời của bà khổ nhất là việc hôn nhân không thuận, chồng mất liên tiếp, vừa tái giá lại tái giá. năm 1984 lại vừa gặp tai nạn mất chồng. Bà ấy vừa khóc vừa nói : người chồng thứ nhất của tôi mất năm 1959, người thứ hai mất năm 1984.
Chồng mất năm 1984 là vì nguyên nhân: ba thương hội tụ ở vượng địa.
Ví dụ 4. Khôn tạo
Ðầu năm 1984, có 1 người Hồ Bắc đến nhờ tôi đoán. Xem trong Tứ trụ thấy thực nhiều, kiêu mạnh, kiêu thực đều có đó là thông in chồng mất rất rõ. Hiên nay đại vận canh ngọ gặp đát kiêu, năm giáp tí 1984 là năm có 3 thực, 4 kiêu tranh đoạt thực rất kịch liệt, nên năm 1984 có tai họa mất chồng. Tôi đã trình bày cho cô ta cách giải, nhưng cô không làm theo. Về sau tháng 8 năm 1984 thì báo thấy có tang : ngày 3 tháng 3 người chồng bỗng nhiên bị chết.
Ví dụ 5. Khôn tạo

Mùa xuân năm 1987 khi tôi lên Bắc Kinh gặp 1 người phụ nữ có chức vụ khá cao đã nhờ tôi đoán vận với thái độ xem thường việc đoán. Tôi thấy bà rất tự phụ, vốn không muốn đoán nhưng để muốn chứng minh rằng Chu dịch dự đoán học và Tứ trụ dự đoán học là có cơ sở nên tôi cũng sắp xếp Tứ trụ và đoán luôn. Vừa vào đầu đã nói đúng yếu điểm của bà ta : năm 1974 bà bị chết chồng. Nghe xong bà ta rất phục.
Ðại vận của bà ta là Giáp dần, lưu niên cũng là giáp dần, là tam quan cùng tương ngộ, hội tụ, tức ứng với câu " Nữ có quan tinh lại gặp quan vận, tất sẽ khắc chồng".
Ví dụ 6: Khôn tạo
Tháng 5 năm 1991 khi tôi ở Băng Cốc -Thái Lan có 1 bà họ Từ là đại thương nhân, tuy tuổi đã quá 60 nhưng tinh thần vẫn rất sung mãn, cười nói hoạt bát có duyên, tiếp khách nhiệt tình, cởi mờ. Bà ấy đã đưa Tứ trụ ra nhờ tôi đoán. Xem xong Tứ trụ tôi nói luôn : Tứ trụ của bà không có quan tinh là suốt đời tự do thoải mái, đi về một mình. Trong hôn nhân bà trước hết là tì thiếp sau mới làm vợ. Năm 1969 thì mất chồng. Bây giờ giàu có và quyền thế đã ràng buộc bà. Nghe xong bà liền giơ ngón tay cái: Thầy Thiệu là người thần, đoán đúng hết. Về hôn nhân thì bà là người vợ thứ 3 và chồng bà đã mất năm 1969.
Chông mất năm kỉ dậu (1969) là vì : kiêu, ấn, đều vượng lại gặp tuế vận, lại còn gặp kiêu thần. Ðiều đó ứng với câu " Tứ trụ không có quan tinh không làm vợ lẽ thì cũng làm mẹ kế".
Mục 2 và mục 3 ở trên đều nói về những tiêu chí thông tin và các sự việc khắc vợ, khắc chồng. Hoạ khắc vợ khắc chồng là điều mọi người rất quan tâm. Nhưng tai hoạ có thể hóa giải được không ? Ðiều đó phải xem hoàn cảnh cụ thể của người ấy, có người hoá giải được, có người không. Ví dụ về ly hôn mà nói, ai cũng hy vọng không việc gì xẩy ra việc đó và xem nó như một tai hoạ trong đời người, nhưng thực tế có lúc ly hôn lại cũng không phải hoàn toàn là xấu.
Vì hai vợ chồng khí âm dương ngũ hành bất hoà từ lúc khắc nhau phát triển đến giai đoạn đối kháng, trong thời gian đó hai vợ chồng ngoài những lúc bực tức, tranh cãi, đánh nhau, làm việc gì cũng không thành, tuy rằng việc ly hôn còn do nhiều nguyên nhân gây ra nữa nhưng cũng ít thấy việc ly hôn còn do nhiều nguyên nhân gây ra nữa nhưng cũng ít thấy việc ly hôn lại do cãi nhau, mà điều chủ yếu là do sự đối kháng của khí âm dương bất hòa nên cuối cùng dẫn đến hôn nhân tan vỡ. Cuộc hôn nhân bất hòa có trường hợp sức khắc mạnh mẽ, nếu không ly hôn thì một bên sẽ chết, tuy nhiên cái chết đó là nguyên nhân bên ngoài hoặc bệnh tật gây đến, nhưng thực chất là do mệnh vận tác động sai khiến. Cho nên có những cuộc ly hôn không những cứu được một mạng người mà sua khi ly hôn mỗi người đều tìm thấy những người bạn tương sinh, tương hợp với mình, làm cho hai khí âm dương trong cơ thể được cân bằng, tình cảm thoải mái, thúc đẩy sự nghiệp phát triển, có cống hiến cho xã hội.
Trong vấn đền ly hôn không phải hai bên đều tự nguyện mà thường một bên hay nói có chết cũng không ly hôn. Ðối với các trường hợp như thế có thể tìm cách hóa giải để giải hoạ. Ví dụ tôi đã dùng phương pháp giải cứu cho nhiều cuộc ly hôn có hiệu quả tốt. Dưới đây cử vài ví dụ. Càn tạo.

Tháng 3 năm 1985, gặp một trường hợp đòi ly hôn nhau, thời gian khá dài. Lãnh đạo và bạn bè đã khuyên hết lời, nói : ông đã hơn 50 tuổi, con cháu đều có, đòi ly hôn không sợ người đời cười hay sao. Nhưng ông ta vẫn một mực không nghe. Cuối cùng ông ta nghe người khác khuyên đến nhờ tôi hóa giải.
Tôi xem trong Tứ trụ ông ta thấy ngang vai nhiều, kình dương lại gặp vượng địa, nhật nguyên là mậu dần, năm và lệnh tháng xung khắc thê tinh rất nặng. Trên Bát quái thông tin khắc vợ cũng rất rõ nên từ rất sớm đã ly hôn 1 lần. Lần ly hôn thứ hai sẽ xảy ra vào năm bính dần (1986) là không nghi ngờ gì nữa.
Nhưng tôi thấy sự khắc vợ của ông ta tuy hung nhưng có thể hóa giải được và đã bày cho ông ta cách giải. Kết quả người chồng càng bình tĩnh và cuối cùng quan hệ vợ chồng tốt dần. Bạn bè người quen ai cũng rất ca ngợi.
Những thảm hoa trông giống như tuýp màu loang giữa thảm cỏ xanh đã được
những người làm vườn có kinh nghiệm sáng tạo nên
Cách làm dễ áp dụng và phổ biến nhất là bạn chôn một nửa chiếc bình gốm
xuống mặt đất. Nhờ đó, bạn có thể tận dụng các chiếc bình hỏng, vỡ.
Trước khi trồng, bạn nên phác thảo hình dạng của thảm hoa. Loại hoa nở bền
như cúc, những loại hoa nhỏ nên được ưu tiên trồng để vườn đẹp lâu hơn
Bạn có thể để các bụi hoa hoa mọc tràn không theo hình dạng nào
trên nền đá sỏi nếu là người thích sự tự nhiên
Một thùng nước lớn đổ ra những bông hoa păng-xê
Bình hoa trở nên tươi vui mắt hơn với sự phối hợp màu sắc
Bên cạnh hoa, bạn cũng có thể dùng những loại sen đá, cây xanh khác để tạo ra tiểu cảnh
Màu xanh của những loại cây đơn giản đem lại sức sống cho nền đất sỏi nâu
Chỉ với một luống hoa nhỏ có cách trình bày khác lạ, phần sân vườn nhà bạn sẽ trở nên đặc biệt hơn
Ở mỗi tôn giáo khác nhau, con số 7 lại mang màu sắc riêng biệt. Trong Phật giáo, số 7 có nghĩa gì? Nó gắn liền với cuộc đời của Đức Phật từ lúc Ngài sinh ra cho đến suốt cuộc đời hành đạo. Với Thiên Chúa giáo, số 7 là biểu trưng cho sự hoàn thiện hay hoàn hảo về cả thể xác và linh hồn...
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Hiểu ý nghĩa con số trong phong thủy sẽ đem lại tài lộc vô biên
![]() |
| Tiền đồng |
![]() |
| Tiền đồng Xuất nhập bình an |
![]() |
| Sư tử đồng |
![]() |
| Long quy |
![]() |
| Chuông gió |
![]() |
| Hồ lô gỗ |
![]() |
| Hai loại vân tay: Hình xoáy ốc và hình nước chảy |
Hướng bếp tuổi Đinh Mùi 1967:

– Năm sinh dương lịch: 1967
– Năm sinh âm lịch: Đinh Mùi
– Quẻ mệnh: Càn Kim
– Ngũ hành: Thiên Hà Thủy (Nước trên trời)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);
– Hướng xấu: Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);
|
| Gậy như ý mang lại may mắn cho gia chủ |
Ý nghĩa “như ý” của nó là sự hài lòng với những gì mình đạt được và cầu mong sự ổn định, vững bền.
Pháp khí này rất thích hợp cho những người có địa vị cao muốn củng cố quyền lực, tránh kẻ tiểu nhân, cấp dưới lấn quyền. Nó có tác dụng lớn về mặt trong phong thủy cũng như về mặt thẩm mỹ.
Có thể đặt gậy như ý tại phòng khách, trên bàn làm việc, nơi các sao tốt như Lục Bạch, Bát Bạch, Nhất Bạch phối hợp chiếu đến. Pháp khí này hợp với người giữ chức trưởng trong mọi cơ quan, tổ chức.
Chú ý, tránh đặt gậy như ý ở nơi ô uế như nhà vệ sinh, nơi ẩm thấp, tối tăm, nơi các hung tinh cùng phối hợp chiếu đến.
(Theo Phapkhiphongthuy)
![]() |
Đây là quẻ Quan Âm thứ 62 được xây dựng trên điển cố: Đường Tăng Đắc Đạo – hay Đường Tăng đi lấy kinh thành đạo.
Đây là quẻ trung bình thuộc cung Dần. Phải trải quan muôn trùng khó khăn thử thách mới có được thành công viên mãn. Nếu giữ nguyên hiện thời cũng được tốt đẹp, nếu có sự thay đổi cũng không có gì là hiểm nguy. Đây là tượng thần Phật ngầm che chở, phải biết nhẫn nại và phấn đấu mới có kết quả tốt đẹp.
Thử quái thần Phật ám hộ chi tượng. Phàm sự nhẫn nại đại cát dã.
Bốn thầy trò Đường Tăng đi đến đất Phật ở phương Tây, vùng đất này quả nhiên là khác thường, các loài hoa cỏ đều lạ lùng tươi đẹp, mà ở đây người người đều tu hành, nhà nhà đều hướng thiện, khắp nơi đều có người tụng kinh. Vài ngày sau, bốn thầy trò đến một ngôi lầu cao, vốn là nơi tu đạo của Ngọc Chân Quan Kim Đĩnh Đại Tiên ở chân núi Linh Sơn. Đêm đó, bốn người tắm gội thay áo, đi nghỉ sớm, để đợi ngày mai lên núi Linh Sơn lễ Phật.
Ngày hôm sau, hai người từ chỗ Kim Đĩnh Đại Tiên xuất phát, mới đi được năm sáu dặm, liền nhìn thấy dòng sông sóng lớn cuồn cuộn chặn đường, hai bên bờ sông không thấy có con thuyền nào, cũng không thấy có người lái thuyền, chỉ có một cây cầu độc mộc. Đường Tăng vừa đứng lên cây cầu độc mộc, hai chân đã run lên, không dám di chuyển về phía trước.
Trong khi bốn người đang không biết làm thế nào, bỗng từ phía hạ lưu có một người chèo thuyền đi lên, cất tiếng gọi lớn: “Lên đò! Lên đò!” Đường Tăng rất vui mừng, vội vàng gọi ba đồ đệ chuẩn bị lên thuyền. Đến khi con thuyền cập bờ, họ mới phát hiện ra đó là con thuyền không đáy. Tôn Ngộ Không tinh mắt, biết được đó là Tiếp Dẫn Phật (tức là Nam Mô Bảo Tràng Quang Vương Phật) đã đến, nhưng không nói ra.
Đường Tăng thấy vậy, sợ hãi hỏi: “Con thuyền này của ông là thuyền hỏng không có đáy, làm sao đưa người qua sông được?” Tiếp Dẫn Phật nói: “Chiếc thuyền của ta là chiếc thuyền nổi tiếng từ thuở khai thiên lập địa, được ta chèo lái đến nay vẫn không có biến đổi gì. Gặp bao sóng gió vẫn được yên ổn, từ vô thủy vô chung vẫn được vui vẻ thanh bình. Loại trừ vật dục giữ cho tâm thanh khiết để có thể quy về nhất thể, muôn kiếp có thể vận hành một cách an nhiên tự tại. Con thuyền không đáy khó mà vượt biển, nhưng từ xưa đến nay vẫn luôn cứu độ chúng sinh!”
Đường Tăng vẫn nửa tin nửa ngờ, Tôn Ngộ Không liền nắm cánh tay Đường Tăng, đẩy xuống thuyền, Đường Tăng liền ngã xuống nước, người chèo thuyền đỡ Đường Tăng đứng dậy. Sau đó Sa Tăng, Trư Bát Giới, Bạch Long Mã và Tôn Ngộ Không cũng đều lên thuyền, tất cả đều đứng trên mạn thuyền. Chỉ thấy người chèo thuyền nhẹ nhàng chèo chống, đi sang bờ bên kia. Bỗng có một thi thể từ dưới sông nổi lên, Đường Tăng kinh hãi, mặt biến sắc. Ngộ Không nhìn thấy vội cười nói: “Sư phụ đừng sợ, đó chính là sư phụ đấy!” Bát Giới, Sa Tăng cũng vui mừng nói: “Là sư phụ đấy, là sư phu đấy!” Người chèo thuyền cũng nói: “Đó chính là ngài, xin chúc mừng, chúc mừng!”
Phút chốc thuyền đã qua bến Lăng Vân Tiên. Đường Tăng xoay người, nhảy lên, nhẹ nhàng đặt chân lên bờ. Nhìn lại, chiếc thuyền không đáy và người chèo thuyền không biết đã đi hướng nào. Ngộ Không lúc này mới nói rằng đó là Tiếp Dẫn Phật. Lúc này Đường Tăng mới biết mình cùng các đồ đệ đã được Phật gia trì, không còn là người phàm trần nữa.
Mấy thầy trò đi lên núi Linh Sơn, thi lễ với các vị Ưu bà tắc, Ưu bà di, Tỳ khưu tăng, Tỳ khưu ni. Mấy thầy trò đến ngoài cửa chùa Lôi Âm. Các thần trong Tứ Đại Kim Cương bẩm báo với Phật tổ, Phật tổ bèn cho gọi thầy trò Đường Tăng vào. Đến đây, Đường Tăng, Ngộ Không, Ngộ Năng, Ngộ Tĩnh và Bạch Long Mã đều đã tu thành chính quả, được thành Phật.
Tây du ký là bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm cùng tên Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân lần đầu vào năm 1986. Lục Tiểu Linh Đồng với vai diễn Tôn Ngộ Không đã trở thành hình tượng tiêu biểu diễn tả đầy đủ và xác thực nhân vật Tôn Ngộ Không mà chưa có một diễn viên nào đạt được.
Năm 1998 – 1999 nhà sản xuất đã làm tiếp 16 tập mà phần đầu chưa kể hết với những cải tiến về kỹ thuật điện ảnh rất tốt nhưng không mất đi lối diễn xuất chân thực của bốn thầy trò Đường Tăng trong phần đầu.
Mộ kết (mộ phát) là những ngôi mộ khi được đắp xong hoặc chưa kịp đắp tự nhiên đất chỗ ấy đùn lên thành ngôi mộ to lớn khác thường. Những ngôi mộ này thường có kích thước lớn gấp đôi, gấp ba… lần, thậm chí được “đùn” thành gò, đống. Và gia đình, dòng họ nào có được những ngôi mộ kết này, con cháu đời đời được hưởng vinh hoa phú quý, giàu sang hơn người…
Ngôi mộ kết của kẻ ăn mày
Tình cờ, tôi có dịp ghé qua xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Tại đây, tôi được người dân kể cho nghe câu chuyện về sự giàu có nổi tiếng khắp vùng của cụ Chánh Đúc tên thật là Nguyễn Đình Giám, sinh sống vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cụ giàu có vì được hưởng lộc từ ngôi mộ phát.
Bà Thanh (65 tuổi, xã Tân Dân, Phú Xuyên, Hà Nội) cho biết: “Câu chuyện về cụ Chánh Đúc ở đây từ trẻ con đến các cụ già, ai cũng biết. Người ta còn có câu ví von “giàu như ông Chánh Đúc””. Cũng theo lời bà Thanh kể, theo câu chuyện bà được nghe từ các cụ cao niên trong làng, bố ông Chánh Đúc là một người ăn mày, bị chết trên đường đi khất thực bên Hưng Yên. Sau khi chết, ngôi mộ ấy bị mối đùn lên thành đống, từ đó ông Chánh Đúc giàu có nhất vùng.
Nghe bà Thanh kể xong, tôi tìm đường tới xã Chuyên Mỹ, nơi vẫn còn con cháu của cụ Chánh Đúc sống. Tại đây, tôi được ông Lâm Hữu Đào, cán bộ văn hóa xã Chuyên Mỹ khẳng định: “Câu chuyện về cụ Chánh Đúc là có thật. Nghe nói cụ ấy giàu có lắm”. Thế rồi chẳng quản đường sá, ông Đào dẫn tôi đến gặp ông Nguyễn Văn Lộc, 73 tuổi, cháu gọi cụ Chánh Đúc là ông cậu (bà nội ông Lộc là chị gái của cụ Chánh Đúc). Thế rồi ông Lộc kể cho tôi nghe câu chuyện liên quan đến ngôi mộ phát và sự giàu có của cụ Chánh Đúc.

Nhờ ngôi mộ kết phát mà cụ Chánh Đúc và con cháu trở nên giàu có. Ảnh minh họa.
Ông nội cụ Chánh Đúc không rõ tên gì, sinh ra trong một gia đình nghèo, không rõ lai lịch, gốc tích ở đâu. Chỉ biết rằng họ là những người hiền lành, chất phác và lương thiện. Lớn lên, ông nội cụ Chánh Đúc theo học nghề thợ xẻ. Tay nghề của ông nổi tiếng khắp vùng. Mỗi khi làng hết việc, ông mang đồ nề, dụng cụ đi đến các nơi khác làm thuê, lấy tiền về nuôi cha mẹ, vợ con. Mỗi chuyến đi như thế, có khi cả tháng, thậm chí vài tháng ông mới về nhà. Và trong mỗi chuyến đi ấy, ông nội cụ Chánh Đúc không quên mang theo chiếc hộp đựng thuốc lào được khảm trai tinh xảo. Chiếc hộp này được coi là “vật bất ly thân” của ông. “Chỉ cần nhìn chiếc hộp đựng thuốc lào ấy, con cháu, người làng nhận ra ngay. Bởi kỹ xảo khảm trai tuyệt đỉnh ấy chỉ người đạt trình độ nghệ nhân nơi đây mới tạo thành và nó còn là “biểu tượng” khi đó của làng về kỹ xảo khảm trai”, ông Lộc chia sẻ.
Lần ấy, ông nội cụ Chánh Đúc đi mãi không thấy về nhà. Vợ con, người thân của ông đi dò hỏi khắp nơi nhưng không biết tung tích ở đâu. Ông còn sống hay đã chết... không một ai biết. Một thời gian sau, tình cờ, con cháu của ông gặp “vật bất ly thân” kia. Hôm ấy, làng vào ngày mùa, ngoài đồng lúa chín vàng rực rỡ, nếu không gặt nhanh, thóc sẽ rụng. Cực chẳng đã, gia đình người cháu của cụ Chánh Đúc mới phải tìm thợ. Khi đám thợ gặt ngồi nghỉ ngơi tại đầu ruộng, một người thợ gặt liền bỏ trong túi hộp đựng thuốc lào ra hút. Nhìn chiếc hộp được chạm khắc công phu, đẹp đẽ ấy, người cháu của cụ Chánh Đúc ngờ ngợ. Người ấy liền mời người kia đến nhà cụ Chánh Đúc nói chuyện.
Vừa nhìn thấy vật, cha cụ Chánh Đúc nhận ra ngay “vật bất ly thân” của người bố thất lạc bao năm. Theo lời kể của người thợ gặt, cách đó mấy năm, có một người đàn ông ăn mày đi qua vùng đất thuộc Khoái Châu (Hưng Yên). Về đến đây, người này vào làng ăn xin và làm thuê cho dân làng. Nhìn thấy hộp thuốc đẹp quá, ông thợ gặt ngỏ lời xin, người đàn ông nọ tặng luôn. Trời tối, người đàn ông nọ ra điếm canh đê xin ngủ nhờ để sáng mai về sớm. Tuy nhiên, sáng ngày hôm sau, người đàn ông nọ bị ốm và chết. Thương cảm, dân làng gọi nhau mang người đàn ông nọ đi chôn. Mọi người bó ông trong một manh chiếu cũ, khiêng ra đồng để chôn. Vừa đi được một đoạn, mây đen kéo đến kín trời, mưa gió nổi lên. Những hạt mưa to hất xối xả vào mặt đoàn người đưa tang khiến bước chân họ siêu vẹo trên con đường đất lồi lõm, trơn trượt. Cố thêm được một đoạn, mọi người bảo nhau đặt tạm người chết xuống cái hố nhỏ ven đường, sáng mai sẽ ra mang đi chôn.
Sáng hôm sau, khi dân làng đến nơi, cái hố trâu đằm ven đường, nơi đặt người ăn mày đã bị mối đùn lên thành một ngôi mộ lớn. Nhìn ngôi mộ, dân làng bảo nhau, đây là ngôi mộ kết. Bên trong ngôi mộ này có tơ hồng quấn quanh người chết. Ngôi mộ này chỉ có thể để nguyên, nếu cải táng, con cháu người này sẽ mất lộc. Còn nếu để nguyên cho ngôi mộ “tự lớn”, con cháu người này được hưởng sự giàu sang và vinh hoa, phú quý muôn đời.
Kể đến đây, ông Lộc bảo: “Tôi đã từng sang thắp nhang ngôi mộ tổ ấy. Ngôi mộ ấy rất lớn, to gấp mấy lần so với những ngôi mộ khác. Ngay từ thời cụ Chánh Đúc, ngôi mộ ấy cũng đã to như thế. Hiện nay khu đất có ngôi mộ ấy thuộc sự quản lý của con cháu cụ Chánh Đúc. Bởi sau cái ngày gặp người thợ gặt kia, cụ Chánh Đúc đã sang tận nơi mua khu đất ấy rồi thuê người trông nom, chăm sóc”.
Sự giàu có của một dòng họ
Từ khi có mộ phát, con cháu người ăn mày ăn lên làm ra, chẳng mấy trở thành người giàu có nổi tiếng khắp vùng. Sự giàu có trên có phải nhờ được lộc trời từ ngôi mộ phát? Theo lời kể của một số người dân làng thôn Chuôn Trung, Chuyên Mỹ, thời điểm ông nội cụ Chánh Đúc chết, ngôi mộ được ăn lộc trời, trở thành mộ kết, từ một gia đình nghèo khó, gia đình cụ Chánh Đúc có của ăn, của để. Đặc biệt đến thời cụ Chánh Đúc, sự giàu có ấy nổi tiếng khắp tổng.
Đưa tay chỉ về phía cánh đồng trước mặt, bà Thanh (65 tuổi, xã Tân Dân, Phú Xuyên, Hà Nội) bảo: “Cả cánh đồng thẳng cánh cò bay này trước kia là của cụ Chánh Đúc hết đấy. Cụ ấy giàu lắm”. Rồi bà Thanh bảo: Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, nhà ở của cụ Chánh Đúc vô cùng rộng lớn, tráng lệ và nguy nga. Trong nhà cụ có hàng chục người ở để trông nom, dọn dẹp, lau chùi nhà cửa. Bữa ăn của cụ toàn “sơn hào, hải vị” được mua từ khắp nơi về. Mỗi khi cụ thức giấc, có người đến tận giường bưng cốc cho cụ nhổ nước bọt, người bưng thau nước ấm, người cầm khăn mặt... Mỗi lần đi xa, cụ cho hàng chục người theo hầu, hộ giá... Có thể nói, cụ là “ông vua nhỏ” ở vùng cụ cai quản (cụ làm Chánh tổng).
Dẫn tôi ra trường tiểu học của xã Chuyên Mỹ, ông Lâm Hữu Đào bảo: “Cả khu này ngày xưa là nơi vui chơi, giải trí, ăn uống của cụ Chánh Đúc. Đây cũng là nơi cụ Chánh Đúc đón các quan lớn trên huyện về. Những cái cây cổ thụ kia là dấu tích về nơi nghỉ dưỡng của cụ Chánh Đúc đấy. Những cái cây này được cụ ấy trồng mà”. Theo lời kể của ông Đào, xưa kia nơi đây là một cái hồ hình bán nguyệt lớn. Ở giữa hồ là một mặt phẳng, trải được mấy cái chiếu để cụ Chánh Đúc cùng mọi người ra đó chơi cờ, luận bàn công việc. Trên bờ là những căn phòng dành để ăn uống, nghỉ ngơi... Có thể nói, khu vui chơi, nghỉ dưỡng thời xưa của cụ Chánh Đúc được ví ngang ngửa với những khu resort hiện đại ngày nay. Bởi số lượng các quan từ nơi kéo về ăn chơi, nghỉ dưỡng rất đông. Hầu như ngày nào cụ Chánh Đúc cũng đón đoàn khách hàng chục người đến ăn, nghỉ, chơi không mất tiền... Ngoài ra, cụ Chánh Đúc cũng hay mang tiền dâng vào đình, chùa hoặc cho tiền sửa sang các nơi công cộng...
Ở miền Nam, người ta ví “giàu như công tử Bạc Liêu” thì ở đây người ta cũng ví sự giàu có của những người sau này với cụ Chánh Đúc. Cụ giàu có, biết hưởng thụ là vậy nhưng lại là một người vô cùng thương người. Cụ thường cho thuê ruộng với giá rất rẻ; nếu không may năm đó mất mùa, cụ sẵn sàng cho nợ đến sang năm trả hoặc trả dần dần. Không bao giờ cụ thúc ép người nghèo. Hay mỗi khi xảy ra hạn hán, mất mùa, dân nghèo đói khổ, cụ lại sai người nấu cháo, phát chẩn hoặc cho vay mượn thóc gạo... Chính vì thế, cụ được nhân dân khắp vùng yêu mến.
Đời cụ Chánh Đúc giàu, đời con cháu của cụ cũng giàu. Theo lời chia sẻ của ông Lộc, sau khi chiến tranh loạn lạc xảy ra, cụ mất, con cháu cụ di tản vào Nam, thi thoảng mới về nhưng ai cũng thành đạt và khá giả. Một số người cháu của cụ còn sang nước ngoài sinh sống. Có thể nói dù ở đâu, con cháu của cụ Chánh Đúc vẫn rất giàu có, sung sướng, đến nay đã là đời thứ 4, thứ 5 rồi. Nhưng tất cả sự giàu có ấy liên quan đến mộ kết cũng chỉ là tin đồn vô căn cứ mà thôi.
| Lý giải về sự giàu có của cụ Chánh Đúc, ông Lộc bảo: “Tôi không biết sự giàu có ấy có phải bắt nguồn từ ngôi mộ phát của ông nội cụ Chánh Đúc không. Chỉ biết rằng từ đời cụ Chánh Đúc làm ăn luôn luôn gặp may mắn, phát đạt (ngày trước cụ Chánh Đúc làm cai thầu, nạo vét kênh mương, hồ và xây dựng...). Ngày nay, con cháu cụ cũng rất giàu sang, phú quý, ai cũng làm giám đốc này kia...”. |
Bộ vị Nhân trung trên khuôn mặt xét thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Nhân trung, Tỉnh bộ, Trướng hạ, Tế trù, Nội các, Tiểu sứ, Bộc tùng, Kĩ đường, Anh môn, Bác sĩ, Bích lộ. Trong tướng thuật xem, bộ vị này được coi là cung Nam nữ, cung Thọ mệnh. Do đó, xem tướng mặt chi tiết ở bộ vị Nhân trung có thể biết tuổi thọ dài ngắn.
Tỉnh bộ chủ về chỗ nhà cửa ruộng vườn.
Nếu bằng phẳng và đầy đặn là có nhà cửa ruộng vườn tốt. Có khuyết lõm cả đời không có nhà ở. Có nốt ruồi ở vị trí này thì thường vận mệnh chẳng thể dài lâu.
Trướng hạ, chủ về có hay không có người cai quản sổ sách và đầu bếp.
Vị trí này nhuận hòa đầy đặn sẽ có đầu bếp giỏi, nếu hẹp thì ngược lại.
Tê trù chủ về ăn uống.
Bằng phẳng đầy đặn thì nhiều của ăn của để. Nếu khuyết lõm thì thiếu đồ ăn. Nếu có màu sắc ác chủ đoản mệnh. Có màu trắng sẽ bỏ mạng vì rượu chè. Có nốt ruồi ở vị trí này sẽ sống cảnh đói khổ bần cùng. Nếu xuất hiện sắc vàng thường vận mệnh chẳng thể dài lâu.
Nội các là vị trí trong cung.
Nếu đầy đặn là tuân thủ lễ tiết. Nếu màu sắc ác thì nông nổi, dâm uế, chỗ này có khuyết lõm cũng luận đoán tương tự.
Tiểu sứ, chủ về có hay không có chức quan.
Kỹ đường, chủ việc có hay không có kỹ nữ.
Đằng thiếp, chủ về có bao nhiêu thiếp.
Nếu bằng phẳng, đầy đặn thì trong nhà nhiều thiếp.
Anh môn, chủ về bác sỹ khám bệnh.
Khuyết lõm hoặc màu xám xịt thì dùng nhiều thuốc mà không hiệu quả.
Nhân trung, có thể được biểu hiện thông qua những đường mạch trên cơ thể. Ví như các đường mạch được thông thoáng, khi đó dòng nước cũng được chảy hài hòa mà không có trở ngại, hay các đường mạch hẹp mà không sâu, dòng nước theo đó bị tắc mà không được lưu thông hài hòa.
Thông qua sự dài ngắn của Nhân trung có thể đoán định được tuổi thọ dài ngắn của người đó. Thông qua sự rộng hẹp của Nhân trung có thể đoán được họ sinh bao nhiêu người con. Vì thế trong tướng thuật xem đó là cung Nam nữ, cung Thọ mệnh.
Nhân trung nên dài mà không nên ngắn, ở giữa nó nên sâu mà rộng ra hai hên. Ví như Nhân trung của một người nhỏ lại hẹp, chủ người đó khó khăn trong chuyện cơm ăn áo mặc. Nếu như Nhân trung của một người bằng mà đầy đặn, chủ người đó gặp nhiều tai họa khốn đốn.
Nếu như phần trên của Nhân trung hẹp mà phần dưới rộng, chủ về người có nhiều con cháu. Nếu phần trên của Nhân trung rộng mà phần dưới hẹp, chủ người ít con. Nếu ở trên dưới Nhân trung đều hẹp mà ở giữa rộng, chủ con cái gặp tai ương khó thành người. Ví như trên dưới Nhân trung đều thẳng lại sâu, chủ về con cháu đầy nhà. Nếu như trên dưới Nhân trung bằng lại nông, chủ không có nhiều con cháu.
Nhân trung sâu lại dài, chủ người này được trường thọ. Nếu Nhân trung nông lại ngắn, chủ người này đoản mệnh. Nếu Nhân trung cong đa phần là người không có chữ tín, Nhân trung đoan chính, thẳng đa phần là kẻ sĩ trung nghĩa. Nếu Nhân trung đoan chính mà rủ xuống thấp thì người đó phúc thọ đều được song toàn; nếu Nhân trung có sự cuộn tròn thì thường là mệnh đoản thọ hoặc nghèo khổ.
Nếu Nhân trung rõ ràng tựa như từng đốt trúc, chủ người thuận lợi trên đường quan trường, được hưởng nhiều bổng lộc. Nhân trung nhỏ tựa như cây kim chủ người đó không có con cháu, cả đời nghèo khổ. Nếu như trên Nhân trung có điểm đen, chủ người có nhiều con. Nếu dưới Nhân trung có điểm đen chủ người có nhiều con gái.
Trong bộ vị Nhân trung có điểm đen, chủ người dễ lấy vợ mà khó việc nuôi con. Nếu trong Nhân trung có 2 điểm đen, chủ người đó sẽ sinh đôi. Nhân trung có đường vân ngang, chủ người cả đời không có con, trong Nhân trung có đường vân thẳng, chủ nhận con nuôi. Nhân trung có đường vân dọc, chủ con cái gặp nhiều bệnh tật. Nếu Nhân trung của một người dài mơ hồ, tựa hồ như không có, thường bị mọi người gọi là nghiêng lõm là điềm báo tuyệt tự, chủ người có cuộc sống nghèo khổ.
Năm 2021 mệnh gì? Năm 2021 là năm Tân Sửu, nạp âm Bích Thượng Thổ. Với những người đang có ý định sinh con trong năm này thì nên theo dõi ngay những đặc điểm chính về tử vi của tuổi để chọn lựa năm ra đời đẹp nhất cho em bé của mình.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Ngắm những bức ảnh tuyệt đẹp về Tết Hà Nội xưa![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Xem tướng mắt người phú quý – Mắt dài, sâu vừa phải (tròng mắt không quá sâu), sáng sủa, sắc tươi nhuận là mắt cao quý, vinh…

– Mắt dài, sâu vừa phải (tròng mắt không quá sâu), sáng sủa, sắc tươi nhuận là mắt cao quý, vinh đạt.
– Đôi mắt có hoạt lực nghĩa là tinh thần tiềm ẩn, bình thường thì không có gì đặc biệt nhưng khi thích thú hay hờn giận bất chợt tỏa ra vẻ sáng dị thường là mắt phú quý.
– Mắt thanh tú, mày dài là tướng quý. Ranh giới giữa đen và trắng phải được phân định rõ ràng, đồng tử phải ở ngay chính giữa nhãn cầu. Người có tướng mắt này tương phối với tai và lông mày hợp cách là đại quý nhân.
– Đồng tử ngay ngắn, sáng láng, lông mày dài và thanh tú là người vừa quý, vừa có phúc, vừa giàu có.
– Mắt cương liệt, có thần uy (người khác không dám nhìn thẳng vào mặt) phối hợp với miệng đắc cách là người có tài lãnh đạo. Họ có tư tưởng cao xa, lời nói có sức thuyết phục. Là tướng được mọi người mến phục.
Từ xưa nhiều người coi: xem tướng, coi số, khảo sát địa lý phong thủy là một nghề trong xã hội. Những người này được gọi là thày sau thày giáo, thày thuốc, thày tu, thày chùa... Trong số ấy có những vị học rộng tài cao, rất uyên bác, "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý". Các vị sống đạm bạc, ẩn sâu trong xóm làng, cuốc đất trồng rau, tỉa đậu, dạy học... Nếu có ai cần họ tư vấn trên các mặt về Đông phương học, họ sẵn sàng hướng dẫn tìm cát tránh hung. Hoàn toàn miễn phí. Không sống bằng nghề thầy bói.
Tuy nhiên đã là nghề ắt có cạnh tranh. Những thầy bà này nói xấu nhau, cãi vã nhau, chẳng khác hàng tôm hàng cá ngoài chợ!. Để không kém người khác, họ đã tự phong “Phong Thủy đại sư” . Đi bói dạo kiếm tiền khắp hang cùng ngõ hẻm. Thực tài thì ít, giả tài lại nhiều. Làm mất đi tính khoa học tinh hoa của Đông Phương học.
Trong bối cảnh đó, có ba ông thày, mỗi ông chuyên sâu một môn: thầy xem tướng, thày tính Số - thầy tử vi, thày xem về Địa lý phong thủy. Ba thày hợp lại đi chu du khắp nơi. Với họ không phải chỉ là kiếm tiền mà chủ tâm vào nghiên cứu học hỏi. Ba thày cũng được thiên hạ tạ khá nhiều tiền.
Buổi chiều nọ các thày đến một trang trại, cả ba muốn tá túc nơi đây qua đêm. Thày Tướng đi tiên phong, ánh hoàng hôn làm thày Tướng phấn kích.
- Thày bước tới cổng thấy người đàn ông oai vệ, thày cất tiếng: Xin chào ông chủ, ba chúng tôi lỡ đường xin được nghỉ tại điền trang đêm nay.
- Người đàn ông chắp tay nói: Dạ thưa, ông chủ ở trong kia, tôi chỉ là người gác cổng. Mời ba ngài vào tệ xá.
Trên đường đi thày Tướng phân vân. Khi vào phòng khách, chủ nhà chào đón rất chân tình. Chủ nhà sai người dâng trà, sau đó là bữa cơm thịnh soạn. Trong khi ăn, thày Số hỏi chủ nhà về gia cảnh và xin cho biết Bát Tự (can và chi của giờ, ngày, tháng, năm, sinh, là 8 chữ) của ông. Chủ nhà hoan hỷ phúc đáp từng ý của thày. Ba thày được nghỉ đêm trong một phòng khách bài trí hài hòa, đồ đạc giản dị, gọn và tiện lợi.
- Trước khi ngủ thày Tướng cho biết: Thiên hiệp hề tiện yểu túc ác. Nghĩa là trán hẹp, lệch, tướng yểu, nghèo khổ. Ngũ quan phá tướng chẳng tốt.
- Thày Số cho hay: Ông này Mệnh Triệt, thân Tuần. Ba cung tam hợp Mệnh, Tài, Quan không tốt, có song Hao cư tại Phúc Tài là không giữ được tiền của. Chỉ được cung Phúc tại Tuất có sao Thái âm, cung xung chiếu tại Thìn có sao Thái dương là hai sao cư Đắc cách. Như thế Tướng không tốt, số chẳng lành. Tại sao giàu có làm ông chủ? Người có tướng làm ông chủ lại là gia đinh canh cổng???Phải chăng nhờ mồ mả ông bà được táng nơi âm trạch tốt Đại phát? Sáng mai xin chủ nhà dẫn đi xem Âm trạch (ra sao).
Ba thày nằm thao thức mong trời mau sáng.
Sáng hôm sau, ba thày dùng trà, ăn sáng. Sau đó đích thân chủ nhà dẫn ba thày đi đến nơi an táng ông bà, cha mẹ. Đường đi vòng vèo khá xa tới khu mộ được táng nơi lòng chảo có suối chảy qua.
- Thày Địa lắc đầu: Đây là nơi thủy xuất, chẳng tụ, có thể nói là không đẹp. Long Hổ dữ thủy thuận, gia trung tài dụng tận.
(Sau đó mọi người ra về), khi về thì đường rất gần, chẳng vòng vèo (như lúc đi).
- Ba thày hỏi: Sao khi đi ông không đi đường này mà đi vòng chi cho xa?.
- Ông chủ nhà từ tốn đáp: Khi dẫn ba thày ra ngoài cổng tôi thấy mẹ con người nông phu đang cắt trộm lúa của tôi. Nếu tôi đi qua đó họ sẽ bỏ lúa mà chạy. Tôi cũng chẳng xuống ruộng lấy lại lúa, chuột sẽ ăn. Họ bị đói nên mới làm vậy!!!
- Cả ba thày đều đồng thanh: Ồ, vậy Ngài được chữ ĐỨC, chính ĐỨC đã thay đổi vận mệnh của ngài. Đức minh minh chi chung.
(Trích lược blog Lưu Xuân Thanh - Lịch Vạn Niên 365 sưu tầm)
1. 5 dấu hiệu trên lòng bàn tay chứng tỏ bạn dễ lấy chồng đại gia
![]() |
2. Tướng mũi không lo thiếu tiền xài
![]() |
3. Nhìn bàn chân biết người có số làm tỷ phú
![]() |
4. Đặc điểm khuôn mặt hay được tiền 'từ trên trời rơi xuống'
![]() |
Maruko
| ► ## gửi đến bạn đọc công cụ xem thước lỗ ban online, xem hướng nhà theo tuổi chuẩn xác |
![]() |
Hiện tượng: Trong những căn nhà hiện đại ngày nay, trong một căn phòng thường thiết kế thêm một căn phòng thay đồ, nhưng người ta lại không biết rằng, nếu phòng thay đồ này mà có ngường cửa hoặc khung cửa thì sẽ phát sinh hiệu ứng phòng trong phòng dễ dẫn đến quan hệ vợ chồng bất hòa.

Phương pháp hóa giải:
Muốn hóa giải sát khí này, đề nghị tháo bỏ ngưỡng cửa, khung cửa và cửa của căn phòng trong phòng này thì mới có thể hóa giải. Nếu không thể tháo bỏ thì nơi ngưỡng cửa hãy đặt một chuỗi đồng tiền Ngũ Đế để cách ly địa khí cùng có thể hóa giải sát khí.