Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Nhất chưởng kinh

Một bài biên dịch hay của anh Quách Ngọc Bội. Mời các bạn cùng đọc và nghiên cứu.
Nhất chưởng kinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Quách Ngọc Bội biên dịch

Nhất Chưởng Kinh còn được gọi là Đạt Ma Nhất Chưởng Kinh (hoặc Đạt Ma Nhất Chưởng Kim, Nhất Chưởng Kim Quang Minh Luân Cục, hay Lục Đạo Thập Nhị Tinh Cung toán số, hay Nhất Chưởng Kinh luận mệnh), chính là tác phẩm của Thiền sư Nhất Hành đời Đường. Nhưng tương truyền là do Bồ Đề Đạt Ma đem vào Trung Quốc từ thời Lương Vũ Đế.

Nhất Hành thiền sư, tên tục là Trương Toại. Ngài sinh năm thứ nhất đời Đường Cao Tông (năm 883 Công Nguyên), người huyện Lạc tỉnh Hà Nam, là nhà Thiên Văn Học, nhà Lý Số Học,... đồng thời là một trong những người đầu tiên sáng lập Phật Giáo Mật Tông Trung Quốc (QNB chú: Hai chữ "Trung Quốc" ở đây nên hiểu là lãnh thổ của nước Trung Quốc vào thời nhà Đường, khi đó chưa xâm lấn Tây Tạng). Đương thời, Hoàng Đế từng bái tăng Nhất Hành làm Quốc Sư, do đó mà cũng có thể biết được học thức và uy vọng của ngài. Nhất Hành không muốn làm quan, chỉ muốn chuyên làm hòa thượng cho nên Hoàng Đế không truy cứu nữa. Thời gian ngài lập thuyết và trước tác các tác phẩm chuyên về Phật sự.

Nhất Chưởng Kinh tuy là nhằm xác định dục tính trí tuệ thiện ác của người xuất gia, nhưng mà về sau được trải qua những tổng kết và phát triển của các thế hệ môn đồ, đã hình thành nên quy mô như ngày nay. Bởi vì nó là tuyệt đối bí truyền trong dân gian, cho nên nó có một chút chậm phát triển về tốc độ cũng như lan truyền, nhưng mà sức sống của môn này vẫn vô cùng thịnh vượng. Ở trong nước (TQ) cũng như Đài, Cảng và nhiều địa phương khác đều có người vận dụng, nhưng mà đều bí mật không bày tỏ cho người khác biết, làm cho người ta chẳng thể biết được làm thế nào mà nó lại đạt được kết quả đúng như vậy, đó chính là nguyên nhân mà khiến cho nó liên tục mang sắc thái tràn đầy thần bí.

Nhất Chưởng Kinh không giống với Tử Bình, Tử Vi, các môn yêu cầu sắp xếp Bát Tự hoặc Mệnh bàn mới có thể tiến hành giải đoán. Nhất Chưởng Kinh chỉ yêu cầu đương số nói chính xác Năm Tháng Ngày Giờ sinh theo Âm Lịch của mình, thì những tình hình của người ta như thế nào sẽ thông qua trong lòng bàn tay chỉ cần vài giây là biết được.

Nhất Chưởng Kinh lấy 12 sao Thiên Quý, Thiên Ách, Thiên Quyền, Thiên Phá, Thiên Gian, Thiên Văn, Thiên Phúc, Thiên Dịch, Thiên Cô, Thiên Nhận, Thiên Nghệ, Thiên Thọ, ở trên 12 cung luân chuyển Năm Tháng Ngày Giờ. Theo đó 12 hạng mục để mà phán đoán cát hung của Phụ Mẫu, Tổ Nghiệp, Huynh Đệ, Phu Thê và Tử Tức của mỗi cá nhân. Nói cách khác, chính là mệnh vận thiếu niên, trung niên, lão niên của mỗi cá nhân. Đương nhiên cát hung của mỗi người đều là do sự tạo thành "Thiện nghiệp", "Ác nghiệp" của chính bản thân họ từ trong quá khứ cho tới hiện tại.

Môn này không chép Thiên Can, chỉ cần lấy Địa Chi ở trong bàn tay, mà biết được tốt xấu, ưu phiền, hối lận, được mất,... của người ta rõ ràng như ban ngày, chính là cái bí mật độ thế chẳng truyền ra ngoài vậy. Mong rằng người nào có duyên biết được nó thì hãy trân trọng. Ngàn vạn lần không được truyền cho người xấu, nếu không thì hậu quả thực khó lường.

Phép khởi cung của Nhất Chưởng Kinh

Posted Image

1. Phép khởi Năm Tháng Ngày Giờ

Tị - Thiên Văn..........Ngọ - Thiên Phúc.......Mùi - Thiên Dịch........Thân - Thiên Cô

Thìn - Thiên Gian...............................................................................................Dậu - Thiên Nhận

Mão - Thiên Phá...............................................................................................Tuất - Thiên Nghệ

Dần - Thiên Quyền....Sửu - Thiên Ách.......Tý - Thiên Quý...........Hợi - Thiên Thọ

Phàm đoán Mệnh thì lấy tả chưởng (bàn tay trái) luân chuyển 12 cung, lấy trên cung Năm mà khởi Tháng, trên Tháng khởi Ngày, trên Ngày khởi Giờ, xem rơi vào cung nào, rồi tổng hợp 4 cung Năm Tháng Ngày Giờ đó để đoán tốt xấu thì tất sẽ biết được hay mất, tươi tốt hay khô héo, sang quý hay nghèo hèn, cùng cực hay hanh thông của một đời người (nhất sinh đắc thất vinh khô cùng thông quý tiện) sẽ hiển hiện trước mắt vậy.

Phàm khởi số, Nam thuận Nữ nghịch, tức là trên cung năm sinh khởi tháng Giêng rồi đếm lần lượt từng cung tới tháng sinh thì dừng lại (nếu người sinh tháng Nhuận, lấy 15 ngày đầu tháng coi như là tháng trước, còn 15 ngày cuối tháng coi như là tháng sau), tiếp theo trên cung tháng sinh đó khởi ngày mồng Một rồi đếm lần lượt từng cung tới ngày sinh thì dừng lại, rồi trên cung ngày sinh khởi giờ Tý mà đếm lần lượt từng cung cho tới giờ sinh thì dừng lại.

Sách ghi chú: Nhất Chưởng Kinh với Tử Vi có cùng một dạng, không lấy Lập Xuân làm Tháng Giêng, điểm này không giống với Tử Bình. (QNB chú: liên quan tới vấn đề này tôi sẽ bình chú ở mục an Mệnh cung bên dưới).

Dưới đây lấy chưởng pháp ví dụ cho 2 mệnh nam nữ:

Như người Nam sinh ra vào năm 2001 tháng 2 ngày 4 lúc 12 giờ (năm đó là Lập Xuân), đổi về Âm Lịch thì được năm Tị, tháng Giêng, ngày 12, giờ Ngọ.

Đầu tiên dùng ngón tay cái bấm vào cung Tị (cung Thiên Văn), từ cung Tị khởi tháng Giêng thì người sinh tháng Giêng lại ở ngay tại cung Tị luôn (cung Thiên Văn), tiếp đó tại cung Tị khởi ngày mồng Một đếm thuận lần lượt tới ngày 12 thì đến cung Thìn (cung Thiên Gian), rồi lại từ cung Thìn khởi giờ Tý đếm thuận lần lượt tới giờ Ngọ thì đến cung Tuất (cung Thiên Nghệ).

Như vậy, 4 cung của người đó đã xuất hiện là:

Năm, Tháng, tại cung Tị - Thiên Văn cung

Ngày tại cung Thìn - Thiên Gian cung

Giờ tại cung Tuất - Thiên Nghệ cung.

Như người nữ sinh vào năm 1970 tháng 10 ngày 23 lúc 20 giờ, đổi về Âm Lịch là năm Tuất, tháng 9, ngày 24, giờ Tuất.

Đầu tiên, đem ngón cái bấm vào cung Tuất đại diện cho Địa Chi năm sinh (cung Thiên Nghệ), tại cung Tuất khởi tháng Giêng, đếm nghịch tới tháng 9 tại cung Dần (cung Thiên Quyền), tiếp đó từ cung Dần khởi ngày mồng Một đếm nghịch tới ngày 24 thì đến cung Mão (cung Thiên Phá), tiếp đó từ cung Mão khởi giờ Tý đếm nghịch cho tới giờ sinh là giờ Tuất thì đến cung Tị (cung Thiên Văn).

Như vậy 4 cung của người nữ ấy đã xuất hiện là:

Năm tại cung Tuất - Thiên Nghệ cung

Tháng tại cung Dần - Thiên Quyền cung

Ngày tại cung Mão - Thiên Phá cung

Giờ tại cung Tị - Thiên Văn cung

Lấy 2 chưởng này làm ví dụ, ngoài ra cứ theo đó mà suy ra.

2. Phép khởi Đại Vận

Đại Vận theo trong bàn tay, trên năm khởi tháng, Nam thuận Nữ nghịch, luân chuyển đếm tới tháng sinh khởi vận. Tại cung chứa tháng sinh khởi Vận thứ nhất, cung kế tiếp là Vận thứ hai, mỗi Vận quản 10 năm.

Thí dụ như, người sinh vào giờ Thìn ngày mồng 8 tháng 3 năm Tý, liền theo cung Tý (cung Thiên Quý) mà khởi tháng Giêng, đếm tới tháng 3 thì rơi vào cung Dần (cung Thiên Quyền), Dần là Vận thứ nhất (1-10 tuổi), Mão (cung Thiên Phá) là vận thứ hai (11-20 tuổi), ngoài ra cứ theo đó mà suy.

Ở trên Đại Vận lại phân chia nữa, mỗi một năm đi một vận, như tại Đại Vận thứ nhất trên cung Dần, 1 tuổi tại Dần, 2 tuổi tại Mão, 3 tuổi tại Thìn,... 10 thì quay lại cung Dần. Tại Đại Vận thứ hai trên cung Mão, 11 tuổi tại Mão, 12 tuổi tại Thìn,... 20 tuổi lại quay trở về trên cung Mão.

Ngoài ra cứ theo đó mà suy.

QNB chú: Ở thí dụ này không nói rõ, nhưng ta hiểu rằng đương số là Nam giới nên mới tính Đại Vận đi thuận như vậy.

Đối với Nữ thì đi nghịch, vậy từ trên cung Tý (cung Thiên Quý) mà khởi tháng Giêng, đếm tới tháng 3 thì rơi vào cung Tuất (cung Thiên Nghệ), Tuất là Vận thứ nhất, Dậu (cung Thiên Nhận) là Vận thứ hai vậy, ngoài ra cứ thế mà suy.

Tại Đại Vận lại phân chia tiếp, mỗi năm đi một vận, như Đại Vận thứ nhất trên cung Tuất, 1 tuổi tại Tuất, 2 tuổi tại Dậu, 3 tuổi tại Thân,... 10 tuổi lại quay về Tuất. Tại Đại Vận thứ hai trên cung Dậu, 11 tuổi tại Dậu, 12 tuổi tại Thân,... 20 tuổi lại quay về cung Dậu.

Ngoài ra cứ theo đó mà suy.

Mỗi năm như thế, từng vận từng năm luân chuyển.

3. Phép khởi Tiểu Vận

Tiểu Vận theo trong bàn tay, trên năm khởi tháng, trên tháng khởi ngày, Nam thuận Nữ nghịch, luân chuyển đếm tới ngày sinh khởi Vận. Cung của ngày sinh là vận năm thứ nhất, cung tiếp theo là vận năm thứ hai.

Thí dụ như, người sinh vào giờ Thìn ngày 8 tháng 3 năm Tý, liền từ cung Tý (cung Thiên Quý) khởi tháng Giêng, đếm tới tháng 3 thì đến cung Dần (cung Thiên Quyền), trên cung Dần khởi đếm tới ngày mồng 4 (*), cuối cùng rơi vào cung Tị.

Nữ thì đi nghịch, tức theo cung Tý (cung Thiên Quý) khởi tháng Giêng, đếm tới tháng 3 thì rơi vào cung Tuất (cung Thiên Nghệ), theo Tuất khởi đếm đến ngày mồng 4 (**) thì rơi vào cung Mùi, tại Mùi (cung Thiên Dịch) là một tuổi, còn 2 tuổi thì tại Ngọ (cung Thiên Phúc), tại Tị (cung Thiên Văn) là 3 tuổi), ngoài ra cứ theo đó mà suy.

Trên đây mỗi Vận chủ 1 năm.

QNB chú: (*) & (**) theo như dữ liệu của ví dụ cung cấp thì đương số sinh ngày mồng 8, nhưng khi tính thì lại tính đến ngày mồng 4, như vậy là thí dụ này viết nhầm lẫn trong khi đếm ngày sinh. Phía trên tôi dịch nguyên văn, độc giả lưu ý vậy.

Tổng Kết:

Nam Nữ trên tháng khởi Đại Vận, mỗi Vận quản 10 năm.

Nam Nữ trên ngày khởi Tiểu Vận, mỗi Vận quản 1 năm.

4. Phép khởi Mệnh cung

Tại Thập Nhị cung thì phép an cung Mệnh so với Tử Bình là khác biệt. Đem cung của giờ sinh, Nam thuận Nữ nghịch, đếm tới Mão thì dừng, tức thì an cung Mệnh vậy.

Như thí dụ phía trên mà Nam mệnh sinh vào giờ Ngọ ở trên cung Thiên Nghệ, theo cung Thiên Nghệ mà khởi Ngọ rồi đếm tới Mão thì rơi vào cung Mùi, an Mệnh cung vào Mùi (cung Thiên Dịch).

Như thí dụ Nữ mệnh sinh giờ Tuất ở trên cung Mão, theo cung Mão khởi giờ Tuất rồi đếm nghịch đến Mão thì rơi vào cung Hợi (cung Thiên Thọ) (QNB chú: chỗ này tác giả sách này cũng tính nhầm, lẽ ra từ cung Mão mà khởi Tuất rồi đếm nghịch chiều đến Địa Chi Mão thì sẽ rơi vào cung Tuất mới đúng).

QNB bình chú thêm:

Việc khởi Mệnh cung bằng phép đếm từ Địa Chi giờ tới Mão thì ngừng lại để an Mệnh là giống như phép an Mệnh của môn Thất Chính Tứ Dư (Quả Lão Tinh Tông) và môn Đạo Tạng Tử Vi Đẩu Số (Thuật Thiên Cơ, Thập Bát Phi Tinh). Các chi phái của các môn ấy đều đa phần sử dụng Tháng xác định bằng Tiết Khí thái dương lịch là chính, đối với môn Thập Bát Phi Tinh thì có nhiều phái chỉ sử dụng Tháng xác định bằng Sóc Vọng thái âm lịch. Vì thế các học giả cần lưu ý cân nhắc để khi vận dụng trong môn Nhất Chưởng Kinh này như thế nào cho phù hợp với quan niệm và lý luận về lịch pháp đối với thuật số của bản thân mình.

Nhất Chưởng tuyệt học

Tôi nói qua về phép khởi Nhất Chưởng Kinh của một phái đã trình bày với tôi:

Cũng là Dương nam thuận, Âm nữ nghịch, Âm nam nghịch, Dương nữ thuận. Trên năm khởi tháng, trên tháng khởi ngày, trên ngày khởi giờ, trên giờ khởi Mệnh cung, gặp tháng nhuận thì 15 ngày đầu tháng coi như là tháng trước, 15 ngày cuối tháng thì coi như là tháng sau.

Khởi một ví dụ thực tế cho quý vị xem: năm âm lịch Tị tháng 5 ngày 17 giờ Dậu, Nam.

Người này là Âm Nam, nên nghịch khởi, được trên năm là Thiên Văn, trên tháng là Thiên Ách, trên ngày là Thiên Nhận, trên giờ là Thiên Quý, lập Mệnh là Thiên Phúc.

Từ Mệnh cung Thiên Phúc, khởi thuận Tài Bạch, Huynh đệ, Điền Trạch, Tử Tức, Nô Bộc, Thê Thiếp, Tật Ách, Thiên Di, Quan Lộc, Phúc Đức, tổng cộng 12 cung.

Từ trên tháng khởi Đại Vận, đi nghịch, mỗi 7 năm là một Vận tùy Thiên Ách khởi

Từ trên ngày khởi xuất Tiểu Vận, Thái Tuế tọa Mùi là Thiên Dịch, Tiểu Vận tùy trụ ngày trên Thiên Thiên Nhận khởi.

Lưu niên thần sát thập nhị cung là Thái Tuế, Thái Dương, Thanh Long, Thái Âm, Quan Phù, Tiểu Hao, Tang Môn, Chu Tước, Bạch Hổ, Quý Nhân, Điếu Khách, Bệnh Phù, từ chỗ Thái Tuế tọa Mùi, sở dĩ nhật trụ tọa Nhận, thuận khởi lưu niên mỗi một năm khởi vận, Nhận là Thanh Long, cho nên cùng cùng Thanh Long chiếu hạn, sang năm sau Thái Tuế tại Cô, Tiểu Hạn liền tới Thiên Nghệ, năm chuyển qua 1 cung, đương nhiên khởi vận và khởi cung ở chỗ này có rất nhiều bí quyết, không được cái bí quyết có thể nói là chẳng có bằng chứng về cát hung, Tứ Trụ, Mệnh Cung, Đại Vận, Lưu Niên, Nguyệt Kiến, mọi thứ đều có quan hệ Hình Xung Khắc hại của Địa Chi, có thể nói là chính xác phi thường, chân truyền Nhất Chưởng Kinh như thế, nếu như không được bí quyết ấy, chỉ dựa vào phép khởi bên trên, tôi cho rằng xem như khởi Mệnh ấy là cát hung không có bằng cứ. Nhất Chưởng Kinh có thể dùng để cầu con cái, có thể dùng trong thuật trạch cát, có thể dùng để chiêm khóa (bấm độn), nếu như chỉ vẻn vẹn không dùng ngoài những tính toán bát tự thì cũng quá ít công dụng. Nên biết rằng Nhất Hành thiền sư chính là Quốc Sư, có thể coi là người phi thường, đồng thời Mệnh bàn Nhất Chưởng Kinh chân chính khởi xuất là rất giống với Tử Vi Đẩu Số. Cũng có Thiên Địa Nhân tam bàn, cho nên mới nói, không thể xem thường được, quý vị toán khởi mệnh phỏng theo Tứ Trụ cũng không phù hợp.

QNB chú: Cái cách mà tác giả chú thêm ngay bên trên đây, với 12 cung chức Mệnh -> Tài -> Bào -> Điền... về thứ tự là hoàn toàn giống với 12 cung chức của môn Thập Bát Phi Tinh (thuật Thiên Cơ của Đạo Tạng), chỉ có điều là ngược chiều nhau mà thôi. Nhưng cũng có rất nhiều người dùng môn Nhất Chưởng Kinh này với việc an 12 cung chức theo thứ tự bên trên Nghịch chiều, giống như môn Thập Bát Phi Tinh và Thất Chính Tứ Dư.

Thập nhị tinh luận Mệnh

Phật đạo - Thiên Quý tinh, tức là giờ Tý. Bấm chưởng kinh (dọc trên bàn tay) thì chỗ của nó trên tay trái là nằm ở ngay bên dưới ngón vô danh (ngón đeo nhẫn, áp út).

Thời thần lạc tại thiên quý tinh,

Nhất sinh thanh quý sự hòa đồng,

Chí khí bất phàm nhân xuất loại,

An nhiên tự tại tính minh thông.

(Canh giờ rơi vào Thiên Quý tinh

Trọn đời thanh quý việc hòa bình

Chí khí phi phàm tài xuất chúng

An nhiên tự tại tính thông minh)

Sao này chủ người thanh cao, có đức, có thể biến việc lớn thành nhỏ, tai họa không xâm hại được. Nếu như được thêm các sao Thiên Quyền Lộc Mã trợ giúp thì thì vinh hoa phú quý. Nếu như phạm nặng (trùng lặp nhiều) thì chủ khóc lóc thảm thiết, là kẻ nuốt lời, thuộc dạng trung- hạ- tiểu-nhân, chỉ là mệnh bán cát. Nếu gặp Cô, Ách, Phá, Nhận chiếu Mệnh thì là người chuyên can gián ở triều đình, tuy gặp Quý nhưng mà không được toàn cát vậy.

Quỷ đạo - Thiên Ách tinh, tức là giờ Sửu. Bấm chưởng kinh, chỗ của nó trên bàn tay trái là ở vị trí ngay bên dưới của ngón giữa.

Thời tại ách trung nhân hỗn độn,

Tinh tinh tác sự hựu si ngốc,

Thử nhân đái tật phương duyên thọ,

Hoàn tu lao lục tác sinh nhai.

(Giờ ở trong Ách người đần độn

Lim dim làm việc lại si ngốc

Người này có tật thì thêm thọ

Còn phải vất vả để sinh nhai)

Sao này tại Mệnh chủ nhân có tật, nếu gặp Phá, Nhận phạm xung (hay trùng lặp nhiều) thì tai nạn bệnh tật sẽ nặng, nếu gặp Quyền Quý tinh thì chủ nhân bệnh nhẹ và được coi là trung- thượng-mệnh vậy. Nếu gặp các sao Cô, Dịch, Gian thì chủ làm việc trì lệnh, cuộc đời lao lực, định rằng chủ long đong lìa nhà xa tổ, chính là trung- hạ-mệnh vậy.

Nhân đạo - Thiên Quyền tinh, tức là giờ Dần. Bấm chưởng kinh thì chỗ của nó trên bàn tay trái ở ngay bên dưới của ngón tay trỏ.

Thời thần lạc tại thiên quyền tinh,

Tính cách thao trì chí khí hùng,

Tác sự sai trì nhân dã hỉ,

Nhất hô bách nặc hữu uy phong.

(Canh giờ rơi vào Thiên Quyền tinh

Tính cách năng động, chí khí hùng

Làm việc cẩn trọng người cũng hợp

Gọi trăm người dạ, có oai phong).

Sao này tại Mệnh, chủ nhân thông minh, tuấn tú, phóng khoáng, tấm lòng có quyền có thế, nhiều mưu trí lắm tài năng, nếu gặp các sao Quý, Phúc, Văn, Thọ tương trợ thì người người khâm phục tôn kính, có quyền mà không quyền là trung mệnh, nếu như gặp phải Ách, Phá, Cô, Dịch tại Mệnh thì làm việc lao lực, tài bạch chẳng tụ, lăng xăng vô ích, cái cần thì không đến, cái đến thì không cần, là trung-mệnh phiêu lãng vậy.

Súc đạo - Thiên Phá tinh, tức là giờ Mão. Bấm chưởng kinh, chỗ của nó trên tay trái là đốt thứ nhất (tính từ lòng bàn tay lên) của ngón tay trỏ.

Thời thần lạc tại thiên phá cung,

Đôi kim tích ngọc dã thành không,

Dạ miên toán kế đồ gia phú,

Sao đại thùy tri hữu chú trùng.

(Canh giờ rơi vào Thiên Phá cung

Ngọc vàng chồng chất cũng thành không

Đêm ngủ tính kế hòng giàu có

Úp túi mới hay mọt đục thủng)

Sao này chủ tài bạch hư không, tổ nghiệp hao tán, nếu được các sao Quyền, Quý tương trợ thì cũng là trung-mệnh, nếu như gặp Dịch, Nhận, Cô, Ách mà phạm nặng (trùng lặp nhiều) thì làm việc gian nan, trùng trùng phá bại, là hạ-mệnh phiêu lãng đông tây vậy.

Tu-La (A Tu La) đạo - Thiên Gian tinh, tức là giờ Thìn. Bấm chưởng kinh thì chỗ của nó trên tay tráu là ở đốt thứ hai (tính từ lòng bàn tay lên) của ngón trỏ.

Đại như thương hải tế như mao,

Phật khẩu xà tâm lưỡng diện đao,

Gian giảo ngoan mưu tàng độc tính,

Ý đa phiên phúc tối nan điều.

(Lớn như biển xanh, mảnh như tơ

Miệng Phật tâm xà, dao hai lưỡi

Gian giảo ác mưu tàng độc tính

Ý nhiều tráo trở rất khó giải)

Sao này chiếu Mệnh, chủ nhân trọn đời lao lực, vất vả bôn ba, chỉ đằng đông mà nói đằng tây, cơ biến khó lường. Nếu được Thiên Quý, Thiên Phúc tương trợ thì tài bạch giàu có, cũng là thượng-mệnh. Nếu gặp Thiên Quyền, Thiên Nhận thì tất là người gian quyền tàn nhẫn, lời nói thì hay mà hành động thì không trong sạch, tính cố chấp, có mưu hung, chẳng có lòng bao dung, tham sân quá lớn. Nếu gặp Cô, Phá, Ách, Dịch, định rằng là người keo kiệt tham lam ghen tị, chính là hạ-mệnh vậy.

Tiên đạo - Thiên Văn tinh, tức là giờ Tị. Bấm chưởng kinh thì chỗ của nó trên bàn tay trái là ở đốt trên cùng của ngón trỏ.

Mệnh ngộ thiên văn tú khí thanh,

Thông minh trí tuệ ý tinh tinh,

Nam tài nữ tú thân thanh cát,

Mãn phúc văn chương cẩm tú thành.

(Mệnh gặp Thiên Văn khí thanh tú

Khôn ngoan trí tuệ ý thông minh

Nam tài nữ đẹp thân trong sạch

Đầy bụng văn chương gấm vóc thành).

Sao này chiếu Mệnh, chủ nhân thông minh lanh lợi, học thức hơn người, làm việc tốt đẹp, nếu gặp Thiên Quý, Thiên Phúc, Thiên Nghệ tương trợ thì định rằng chủ người thành công đỗ đạt (ngao đầu độc chiếm, hổ bảng đăng danh) kề bên thềm vàng điện ngọc. Nếu gặp Thiên Quyền, Thiên Nhận thì văn võ đa tài, chính là thượng-mệnh. Nếu như gặp Phá, Ách, Cô, Dịch cùng phạm nặng (trùng lặp nhiều) thì học nhiều mà thành công chẳng được là bao, không phải kẻ chuyên viết văn làm sách mà là người vân du biển hồ, chính là hạ-mệnh của thuật sĩ, của người làm nghề thủ công vậy.

Phật đạo - Thiên Phúc tinh, tức là giờ Ngọ, Bấm chưởng kinh thì chỗ của nó trên tay trái là ở đốt trên cùng của ngón giữa.

Mệnh phùng thiên phúc thị sinh thời,

Định nhiên thương khố hữu doanh dư,

Khoan hồng đại lượng căn cơ ổn,

Tài bạch quang hoa bách phúc tề.

(Mệnh gặp Thiên Phúc là giờ sinh

Định rằng kho đụn có dồi dào

Khoan hồng đại lượng, căn cơ vững

Tài bạch rực rỡ, phúc tụ nhiều)

Sao này chiếu Mệnh, chủ nhân được hưởng phúc thanh nhàn, tính tình tự tại, độ lượng khoang hồng, căn cơ vững chắc, lại được thêm Quyền, Nhận tương trợ thì là mệnh giàu có, cơm áo sung túc, kho đụn dồi dào. Nếu gặp Dịch, Cô, Gian, Phá tinh thì tất chủ tham lam bủn xỉn ghen ghét đố kị, là hạ-mệnh cơm áo gian nan vậy.

Quỷ đạo - Thiên Dịch tinh, tức là giờ Mùi. Bấm chưởng kinh, chỗ của nó trên tay trái là ở đốt trên cùng của ngón vô danh (ngón đeo nhẫn, áp út).

Nhân đạo nhược phùng thiên dịch tinh,

Bàn di ly tổ bất tằng đình,

Thân tâm bất đắc phiến thì tĩnh,

Tẩu biến thiên nhai thị vị trữ.

(Người ta nếu gặp sao Thiên Dịch

Dời nhà xa tổ chẳng thể dừng

Thân tâm chẳng được giờ nào tịnh

Đi khắp chân trời vẫn chưa yên).

Sao này chiếu Mệnh, chủ nhân mang mệnh ly hương biệt tỉnh, tình cốt nhục nhiều lao lực, thân tâm tự thành tự lập. Nếu gặp 5 sao Phúc, Quyền, Quý, Nhận, Thọ thì chủ làm quan cung cấp xe, ngựa, nhờ đó mà mệnh được hiển vinh. Nếu như gặp các sao Cô, Phá, Ách thì như gió thổi lá cây trôi nổi trên sóng nước, tâm vượn ý ngựa (tâm viên ý mã - ý nói linh động chẳng được tĩnh), là hạ-mệnh ra ngoài vân du trên giang hồ vậy. Nếu phạm nặng (trùng lặp nhiều) mà Nhận, Ách tương xung thì tất là dạng những kẻ bị lưu đày mà thôi.

Nhân đạo - Thiên Cô tinh, tức là giờ Thân. Bấm chưởng kinh, chỗ của nó nó trên tay trái là ở đốt trên cùng của ngón út.

Thời thần nhược phùng thử thiên cô,

Lục thân huynh đệ hữu như vô,

Không tác không môn thanh tĩnh khách,

Tổng hữu thê nhi tình phân sơ.

(Canh giờ nếu gặp sao Thiên Cô

Lục thân huynh đệ có như không

Chẳng ở cửa Không, thanh tĩnh khách

Thì tình cũng tách biệt vợ con)

Sao này chiếu Mệnh, chủ trọn đời cô độc, nam nhân mà gặp thì lục thân vô tình, nữ nhân mà gặp thì khắc con hại chồng, người mà phạm nặng (trùng lặp nhiều) sao Thiên Cô thì phản chuyển thành không cô độc, tất sẽ là nửa đời nửa đạo, nếu được các sao Quyền, Phúc, Quý, Thọ tương trợ thì chính là thượng-mệnh vậy, nhưng cũng không tránh được thiếu niên có hình khắc. Nếu như gặp các sao Phá, Dịch, Gian, Ách, Nhận thì tất sẽ là hạ-mệnh phiêu lưu mây nước. Phàm là tuyển chọn nguyên cớ xuất gia của mệnh người nào đó thì chủ yếu xem sao Thiên Cô làm chủ.

Súc đạo - Thiên Nhận tinh, tức là giờ Dậu. Bấm chưởng kinh thì chỗ của nó trên tay trái là ở đốt thứ hai của ngón tay út.

Thiên nhận vi nhân tính đại cương,

Thị phi chung nhật yếu tranh cường,

Trì đao lộng phủ hình tâm trọng,

Hảo tự tướng quân nhập chiến trường.

(Người mang Thiên Nhận, tính cứng rắn

Thị phi cả ngày cần tranh thắng

Cầm đao vung búa tâm hình khắc

Hợp với tướng quân ở chiến trường)

Sao này chiếu Mệnh, chủ nhân tính cách cả đời rất cương mãnh, táo bạo tự hành động, tự cho mình đúng mà không quan tâm cảm xúc của người khác, chẳng được hưởng khí nhàn, thói quen nóng tính vượt qua các sự việc, nếu được các sao Quyền, Quý, Phúc thì sẽ là người lễ nghĩa không dung tục tầm thường, đủ mà chế hóa cường bạo, chính là thượng-mệnh vậy. Nếu như gặp Cô, Phá, Gian, Ách, thì to gan lớn mật, hình thể tàn tật, khó tránh khỏi cái chết không toàn thây, là hạ-mệnh vậy. Nếu ác tinh ít mà cát tinh nhiều thì cũng là trung-mệnh, còn phạm nặng thì tất chủ tàn tật.

Tu La đạo - Thiên Nghệ tinh, tức là giờ Tuất. Bấm chưởng kinh thì chỗ của nó trên tay trái là ở đốt dưới cùng của ngón út.

Thiên nghệ sinh nhân tính tối linh,

Tương nam tác bắc sính đa năng,

Húy vi kiến linh ky quan xảo,

Đáo xử hòa đồng tác sự cần.

(Người mang Thiên Nghệ tính rất khéo

Đem nam làm bắc trổ đa tài

Gọi là Kiến Linh mưu kế khéo

Nơi nơi hòa đồng, làm việc chăm).

Sao này chiếu Mệnh, chủ nhân là người đa trí đa năng, khéo léo lanh lợi, gần quý nhân, nếu phạm nặng (trùng lặp nhiều) thì chủ tư chất đần độn, lại biếng nhác ngoan cố, học nhiều mà thành ít, chỉ ngang vai ảnh hưởng với chúng thợ thuyền mà thôi. Nếu được các sao Thiên Quyền, Quý, Phúc, Văn, Thọ đầy đủ thì cương nhu tương tế, tuy là nghệ thuật cũng có thể thành danh. Nếu là Thiên Cô, Thiên Văn, thì có thể làm tăng đạo xuất tục, chính là trung-mệnh. Nếu gặp Phá, Ách, thì nghề nghiệp chẳng có thành tựu, rốt cuộc là hạ-mệnh.

Tiên đạo - Thiên Thọ tinh, tức là giờ Hợi. Bấm chưởng kinh thì chỗ của nó trên tay trái là ở bên dưới của ngón tay út.

Phu thê sinh thời mệnh tối trường,

Thượng cung hạ kính tính ôn lương,

Nhất văn thiên ngộ tâm từ thiện,

Hỉ nộ trung gian hữu chủ trương.

(Giờ sinh "phu thê", mệnh thọ trường

Trên cung dưới kính, tính ôn lương

Nghe một hiểu ngàn, tâm từ thiện

Trong lúc giận mừng có chủ trương)

QNB chú: hai từ "phu thê" 夫妻 ở trong câu đầu tiên của bài này tôi cho là có sự nhầm lẫn, bởi vì đang nói về Tiên đạo - Thiên Thọ tinh ở cung Hợi, mà cung Hợi thì tương ứng với cung Song Ngư chứ không phải là cung Song Tử (tương ứng với cung Thân, cung này còn gọi là "cung Dâm" vì hình dáng nó như Phu Thê vợ chồng). Độc giả lưu ý vậy.

Sao này chiếu Mệnh, chủ nhân trường thọ khỏe mạnh, trí tuệ thông minh, làm việc ôn hòa lương thiện có tâm cứu người, không làm tổn thương người khác, nhiều khi làm ơn mà mắc oán, làm việc thật thà, người người khâm phục kính trọng, bình sinh an ổn, có trước có sau, mừng hay giận đều có chủ định kiềm chế được mà không để lộ ra. Nếu được Thiên Quyền, Phúc, Quý, Nhận tinh tương trợ thì tất chủ khoan hồng đại lượng, phúc thọ kéo dài, nếu phạm nặng (trùng lặp nhiều) thì có thọ mà không được phúc, phạm Thiên Cô, Thiên Ách thì chính là trung-mệnh vậy.

Tổng luận về 12 sao

Nói rõ về phép xem Mệnh, cần phải tra xét cung hạn số là đầu tiên.

Nam thì e ngại Cô, Dịch hung tinh, có Thiên Phúc Thiên Quý thì không đáng ngại nữa.

Nữ thì e ngại các sao Phá, Nhận, Ách, có Thiên Quyền trợ giúp thì vượng phu ích tử, có Thiên Văn, Thiên Nghệ thì tính khéo, có Thiên Phúc Thiên Quý Thiên Thọ thì mệnh vững vàng có thực lực, có Thiên Văn mà phạm nặng (trùng lặp nhiều) thì lại chủ bần tiện dâm ô, bôi xấu tổ tông, hành vận mà gặp 2 lần trùng thì mệnh hạn rất tối, Nguyệt phận (trong tháng) mà gặp Cô, Phá, Ách thì tháng đó cũng chủ hung tai.

Người nam mệnh mà 2 lần trùng Thiên Quý thì quý mà chẳng quý, người mà 2 lần trùng Thiên Quyền thì tiệt chẳng có quyền.

Thiên Văn trùng thì nam nữ dâm lạm.

Nữ mệnh mà Thiên Quý trùng, cuối cùng có thể gặp quý, nếu thấy 4 lần trùng thì khắc con mà cơm áo được giàu sang.

Thiên Phúc trùng thì y lộc tự nhiên.

Thiên Ách tại ngày giờ trùng thì phẩn chuyển thành chẳng gặp tai ách bệnh tật. Gặp tam Ách trùng thì chẳng những không bị ách mà còn có y lộc dư dả.

Mệnh hạn cùng có Thiên Quyền tinh, hư thực mà hình thê khắc tử.

Người tứ Ách tinh chủ có 2 con, y lộc có thừa.

Người Mệnh có 2 Quyền tinh, trang trọng chính đại. Mệnh có 3 Quyền tinh, tất chủ uy quyền.

Người có 2 Thiên Phá tinh, y lộc phản chuyển thành ổn định vững chắc. Có 3 Phá tinh thì phá bại, là hạ-mệnh. Có 4 Phá tinh thì chả có y lộc và kém thọ.

Người gặp trùng Thiên Gian tinh, phản chuyển thành chẳng gian mà chính đại. Có 3 Gian tinh thì lại là người xảo quyệt hạ lưu. Có 4 Gian tinh thì chủ bị lưu đày phá bại.

Người có Văn Tinh trùng thì phú quý, có 3 Văn Tinh thì ít y lộc nhiều văn học, có 4 Văn tinh thì khắc vợ và mắt có tật.

Người có 2 Phúc tinh thì khắc vợ mà trước được sang qúy, có 3 Phúc tinh thì được thọ nhưng vô phúc, có 4 Phúc tinh thì áo cơm dồi dào.

Người có 2 Thiên Dịch tinh thì phản chuyển thành chủ nữ quý, có 3 Dịch thì chủ hạ tiện, có 4 Dịch thì được nô nộc đắc lực.

Người có 2 Cô tinh thì có con cháu, có 3 Cô tinh thì nữ khắc chồng, nam khắc con, có 4 Cô tinh thì vợ tham mà nghèo.

Người có 2 Nhận tinh thì lại chủ từ thiện, có 3 Nhận tinh chính là quý nhân có quyền quý, có 4 Nhận tinh thì quyền quý nhưng yểu thọ.

Người có 2 Nghệ tinh thì hình thê khắc tử, có 3 Nghệ tinh thì hôn muội tối tăm, có 4 Nghệ tinh thì lận đận chẳng thành.

Người có 2 Thọ tinh thì tính ngu đần, có 3 Thọ tinh thì xuất gia mà thọ cao, có 4 Thọ tinh thì lìa nhà xa tổ, nghèo mà thiện.

Quý Dịch nhị trùng đa lao lục,

Phá bại phùng Văn tất yểu vong,

Quyền nhược kiến Cô đa hình khắc.

(Quý, Dịch mà 2 lần trùng lặp thì đa phần là lao lực

Phá bại gặp Văn thì sẽ yểu vong

Quyền mà gặp Cô thì lắm hình khắc)

Nhị trùng thiên thọ giả niên tuy cao nhi phá bại chiêu phi,

Thiếu niên trùng gian giả tính khan tham nhi thọ diệc bất vĩnh.

(Người mà Thiên Thọ trùng 2 lần thì tuổi càng cao sẽ phá bại chiêu chuốc thị phi

Kẻ thiếu niên gặp Thiên Gian trùng thì tính keo kiệt tham lam mà thọ cũng chẳng dài)

Nghệ nhược phùng gian, hình thương phá bại.

Nhận nhược kiến ách, tật bệnh bần cùng.

(Thiên Nghệ nếu gặp Thiên Gian thì hình thương phá bại

Thiên Nhận nếu gặp Thiên Ách thì bệnh tật bần cùng).

Sinh thì phùng nhị ách, tảo tuế hung vong.

Tứ trụ hữu tam cô, trung niên phá bại.

(Giờ sinh gặp 2 Ách thì tuổi trẻ sẽ chết hung

Tứ trụ có 3 Cô thì trung niên phá bại).

Nhận ách đồng cung, tổn tự kỷ nhi thương thủ túc,

Quý thọ quyền sinh niên nguyệt, tất phong tổ nghiệp nhi hiển môn lư.

Phá nhận cô ách hội vu nhất thì, nan vi phu thê tử tức.

(Nhận, Ách, đồng cung tự tổn mình lại hình thương anh em

Quý, Thọ, Quyền ở năm tháng sinh tất sẽ là tổ nghiệp to lớn lên, cửa nhà thêm rạng rỡ.

Phá, Nhận, Cô, Ách hội cùng lúc thì khó có vợ chồng con cái).

Thập nhị tinh chi lý, vu tư bị hĩ luận,

Nhất sinh chi mệnh, thục hữu nghi yên,

Trí giả tường thẩm, nhi tế thôi chi,

Tự khả cứu họa phúc vu tiền tri dã.

(Cái lý của 12 sao có luận đầy đủ nơi đây

Mệnh của 1 đời, ai người có nghi ngờ nữa

Kẻ trí giả xem xét cho tường, mà đoán cho tinh

Tự có thể nghiên cứu được việc tiên tri về họa phúc).

Bài quyết đoán mệnh cát hung của Nhất Chưởng Kinh

Phàm khán mệnh tu tế tường, nam phúc tất phú, nữ quý phản tiện.

Tứ trụ hữu nhị tam trùng cát tinh giả, tài nguyên hữu ích, gia đạo tất xương.

Nhược tứ trụ giai cát tinh giả tất đại phú đại quý nhân dã.

Tứ trụ hữu hung tinh nhị tam trùng giả, bôn ba lao lục, tân khổ hạ lưu.

Nhược tứ trụ giai hung tinh, như gian, phá, dịch, nhận giả, đại tắc tỷ lưu khất thảo.

Nhược hoặc tiền sinh khán kinh tác thiện giả, trị thử hung tinh bất quá bần cùng nhẫn khí thôn thanh khổ nhi dĩ.

(Phàm xem mệnh cần tỉ mỉ cặn kẽ, nam gặp Phúc thì giàu, nữ gặp Quý thì tiện

Người mà Tứ Trụ có 2 3 lần trùng cát tinh, tài nguyên tăng tiến, gia đạo hưng thịnh

Nếu Tứ Trụ đều có cát tinh tất sẽ giàu to, là người đại quý vậy.

Tứ Trụ có 2 3 lần trùng hung tinh thì bôn ba lao lực, cay đắng hạ lưu.

Nếu Tứ Trụ toàn hung tinh như Gian, Phá, Dịch, Nhận thì lưu lạc ăn mày.

Nếu người nào đó từng làm việc thiện, gặp các sao hung ấy chẳng qua chỉ bần cùng bấm bụng chịu khổ mà thôi).

Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương

Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là âm.

Tứ Trụ dương thì trước khắc cha, còn toàn âm thì đầu tiên khắc mẹ.

Nam phạ cô, dịch, phá, ách chư tinh, hữu phúc, quý nhị tinh bất phương.

Phụ phạ cô, dịch, phá, ách chư tinh, hữu phúc, thọ, quyền tinh vô ngại.

(Nam ngại các sao Cô, Dịch, Phá, Ách, có các sao Phúc, Quý thì không ngại

Nữ ngại các sao Cô, Dịch, Phá, Ách, có các sao Phúc, Thọ, Quyền thì không ngại)

Nữ mệnh thiên quý phùng thiên dịch,

Hoa tiền nguyệt hạ hội giai kỳ.

Nữ mệnh cô ách phùng thiên dịch,

Đường tiền sử hoán dữ sương cư.

(Nữ mệnh Thiên Quý gặp Thiên Dịch

Dưới trăng trước hoa gặp tươi đẹp

Nữ mệnh Cô, Ách gặp Thiên Dịch

Trước nhà hô hoán và góa bụa)

Nhược trị thiên văn nhẫn khí thôn thanh

Dữ dịch sư ni kỹ giả phục hà nghi.

(Nếu gặp thêm Thiên Văn thì bấm bụng chịu đựng,

Cùng với Dịch thì làm ni sư kỹ nữ chẳng còn nghi ngờ gì).

Đãn phàm cung tinh mạc phạm trùng,

Trùng quý bất quý, trùng phúc vô phúc, trùng nghệ vi nhân mộng độn.

Trùng văn tuy học vô thành, song ách hạn tuế hung vong, túng trưởng thành biến ngu ngoan.

(Hễ là cung tinh thì chớ phạm trùng

Trùng Quý chẳng quý, trùng Phúc vô phúc, trùng Nghệ là người đần độn.

Trùng Văn tuy học mà chẳng thành, hai Ách hạn năm hung vong, dẫu có trưởng thành cũng ng* d*t).

Trùng phá bất vi phá, trùng cô khả xuất gia,

Trùng dịch bất lao lục, trùng gian bất gian, trùng nhận bất nhận.

(Trùng Phá thì không bị phá tán, trùng Cô thì có thể xuất gia

Trùng Dịch thì không bị vất vả, trùng Gian thì không gian xảo, trùng Nhận sẽ không chém giết).

Tam cô ấu khả xuất gia, nhược bất xuất gia tắc tất chủ trung niên bại tẫn, khắc tử thương thê,

Tam cô nhược trị nhất phúc hoặc trung quý hoặc nhất thọ hoặc nhất văn, vi tăng đạo tất thành chính quả; túng tại gia diệc phi phàm tục.

(Tam Cô thì thuở bé có thể xuất gia, nếu chẳng xuất gia thì tất đến trung niên bại hết, khắc con hại vợ,

Tam Cô nếu gặp 1 Phúc hoặc Quý hoặc Thọ hoặc Văn thì làm tăng đạo sẽ thành chính quả, dẫu có tại gia thì cũng không phải là dạng phàm tục).

Phàm hình khắc trùng, Dịch nhược tam trùng, nhất sinh lao lục.

(Hễ là hình khắc trùng/nặng, như Dịch nếu trùng 3 lần thì cả đời lao lực).

Ách phùng tam vị, ấu hoặc thân vong, bất vong hậu phản cận quý, tất hữu trư tật, tổ nghiệp cải ly, khan lận bất túc, phi lương thiện bối.

(Ách gặp tam vị, thiếu niên có thể vong thân, nếu chẳng chết thì sau này phản chuyển thành gần người quý, tất sẽ có tật, hoán rời tổ nghiệp, keo kiệt chẳng vừa, chẳng được lương thiện.

Tam gian giả, vi nhân gian trá, ky thâm mưu viễn; nhược hữu cát tinh lai trợ phản vi chí thành tín thực chi nhân.

(Người có 3 Gian là người gian trá, mưu kế thâm sâu, nếu có cát tinh đến trợ giúp thì phản chuyển thành người rất thành tín chân thực).

Tam phá giả, vi nhân tính táo, tổ nghiệp nan thủ, tự thành tự lập, lục thân huynh đệ vô kháo, tài bạch dị tán, sự thượng hư hoa.

(Người có 3 Phá là người tính khô khan, khó giữ tổ nghiệp, tự thành tự lập, lục thân huynh đệ chẳng nương nhờ, tài bạch dễ tiêu tan, sự việc thường hư hoa chẳng thực).

Tam quyền nhược trị giả, mỗi sự bất thụ nhân khi, tâm cao chí đại, phú quý hữu quyền.

(Người có 3 Quyền, vào việc chẳng chịu để người khác lấn áp, tâm cao chí lớn, phú quý quyền hành).

Tam quý nhược phùng giả, tất nhiên đại quý, cao hiền tôn kính, tiểu nhân bất túc.

(Người có 3 Quý, tất nhiên đại quý, cao hiền tôn kính, tiểu nhân không dám tới).

Tam văn giả, trí tuệ thông minh, hữu cương hữu nhu, thiện kế thừa tổ nghiệp, trường bảo phú quý.

(Người có 3 Văn, trí tuệ thông minh, có cương có nhu, giỏi kế thừa tổ nghiệp giữ gìn phú quý lâu dài).

Tam phúc chi nhân, tất nhiên đại phú.

(Người có 3 Phúc thì giàu to)

Tam dịch chi nhân, tổ nghiệp bất chiêu, tâm tính bất thường, thiên di canh cải vô định.

(Người có 3 Dịch thì không chiêu được tổ nghiệp, tâm tính bất thường, chuyên canh cải, đổi thay không ổn định).

Tam nhận chi nhân, vi sự hữu phương, tín hành thành thực, tổ nghiệp mậu thịnh.

(Người có 3 nhận, làm việc có phương pháp, tín nghĩa thành thực, tổ nghiệp tươi tốt thịnh vượng).

Tam nghệ chi tinh, vi nhân linh lỵ, gia đạo phong doanh.

(Người có 3 Nghệ là người lanh lợi, gia đạo đầy đủ giàu có)

Tam thọ nhược phùng, vi nhân hảo thiện, nghiễm hành phương tiện, trường thọ chi mệnh; nhược thị phúc hoặc quý lai trợ, nãi phúc thọ song toàn chi nhân dã.

(Nếu gặp 3 Thọ thì là người hiền lành, có sự thuận lợi rộng, được trường thọ, nếu như có Phúc hoặc Quý đến trợ giúp thì chính là người được Phúc Thọ song toàn vậy).

Luận 12 tháng sinh

Chỉ cần bạn biết được nguyệt phận (tháng) âm lịch mà mình sinh ra thì đối chiếu với những tính chất sở thuộc nguyệt phận bên dưới đây, sẽ có thể biết được mệnh vận. Giản dị vô cùng.

Thơ về người sinh tháng Giêng

Đoan nhiên tương nhi thị tiền duyên,

Bình sinh khoái nhạc phúc miên miên,

Quý nhân tiếp dẫn tăng cát khánh,

Hòa hợp đoàn viên quá bách niên.

(Thẳng ngay tướng trẻ là tiền duyên

Suốt đời khoái lạc phúc triền miên

Quý nhân tiếp dẫn thêm may mắn

Hòa hợp đoàn viên quá bách niên).

Người sinh tháng Giêng, thuận lợi đường quan được gần người quyền quý, việc lớn thành nhỏ, là mệnh tỉ mỉ cẩn thận, thường chiêu được tài nguyên bốn phương, vợ con hòa hợp không khắc phá.

Thơ người sinh tháng Hai

Thiên sinh tính thiện tự gia tri,

Nhất sinh y lộc tự phong phì,

Tiền túc gia tư đa phú quý,

Cao nhân hoan hỉ tiểu nhân khi.

(Trời sinh tính thiện tự mình hay

Một đời y lộc sung túc thay

Tiền đủ của dư nhiều phú quý

Cao nhân mừng rỡ tiểu nhân ghen)

Người sinh tháng Hai, là mệnh của người tâm tính ôn hòa, tâm không độc hại, thông minh đa trí, với lục thân ít duyên, trung hạn phát đại phú quý.

Thơ người sinh tháng Ba

Vi nhân tâm trực tự khoan hoài,

Bình sinh chiêu đắc tứ phương tài,

Trung hạn vinh hoa thì phát phúc,

Do như khô mộc ngộ xuân lai.

(Là người ngay thẳng tự khoan dung

Cuộc đời được của khắp mọi vùng

Trung vận vinh hoa thời phát phúc

Tựa cảnh cây khô lúc Xuân phùng).

Người sinh tháng Ba, là mệnh của người tâm tính khoan hồng độ lượng, bất cứ việc gì cũng có thể nhẫn nại, hạn thuở đầu thì bình thường, đến trung hạn thì phát phúc, cuối hạn thì được vinh hoa phú quý.

Thơ người sinh tháng Tư

Nhất sinh mệnh hạn thắng nhất niên,

Bất tu sân hận khổ ưu tiên,

Cánh đắc trì trai phương tiện phúc,

Phu thê hòa hợp vĩnh đoàn viên.

(Một đời Mệnh Hạn đẹp một năm

Chẳng cần sân hận khổ ưu phiền

Giữ giới ăn kiêng thì được phúc

Vợ chồng hòa hợp mãi đoàn viên)

Người sinh tháng Tư, tâm tính không ổn định, tên tuổi động 4 phương, thích kết giao bằng hữu, không giữ tổ nghiệp, tự lập nếp nhà, hạn thuở ban đầu thì bình thường, đến cuối hạn thì đại phát phú quý.

Thơ người sinh tháng Năm

Xuất nhập thường thường ngộ hoành tài,

Quý nhân tiếp dẫn tiếu nhan khai,

Điền viên sự nghiệp đa hưng vượng,

Phú quý vinh hoa thứ đệ lai.

(Ra vào thường gặp được tiền tài

Quý nhân tiếp dẫn nở nụ cười

Ruộng vườn sự nghiệp nhiều hưng vượng

Phú quý vinh hoa lần lượt đến)

Người sinh tháng Năm, là mệnh của người ôn hòa lương thiện, tâm tính lanh lợi, có quyền thế uy phong, làm việc chính trực, được quý nhân tiếp dẫn, vợ chồng nửa đường đứt gánh.

Thơ người sinh tháng Sáu

Bình sinh y lộc tự nhiên xương,

Vi nhân hạo đạt hảo văn chương,

Ưu du khoái nhạc gia hào phú,

Phu thê hài lão bách niên trường.

(Cuộc đời y lộc tự vinh xương

Là người thông đạt giỏi văn chương

An nhàn hạnh phúc nhà giàu có

Chồng vợ hài hòa trăm năm trường)

Người sinh tháng Sáu, tính khéo lanh lợi, là người hiển đạt nơi xa, thân mang nghề ra đi mà không giữ tổ nghiệp, thuở ban đầu của hạn thì có tiền tài, trung hạn được cát lợi, cuối hạn thì phú quý, cơ mưu rất sâu xa, chính là mệnh tốt vậy.

Thơ người sinh tháng Bảy

Nhất thế vi nhân bất tất ưu,

An nhiên vô sự quải tâm đầu,

Gia nghiệp điền viên nghi tự lập,

Phương tri phúc lộc mệnh trung cầu.

(Một đời làm người chẳng ưu tư

An nhiên không phải bận tâm gì

Gia nghiệp ruộng vườn đều tự lập

Nên biết phúc lộc có trong mệnh)

Người sinh tháng Bảy, là người từ thiện, làm việc tử tế hòa ái, sơ hạn thì bình thường, trung hạn và cuối hạn thì được phú quý vinh hoa.

Thơ người sinh tháng Tám

Vi nhân đoan chính mạo đường đường,

Tâm địa thông minh tính thiện lương,

Tác sự đa năng tâm đạt lý,

Tha niên vận đáo phúc miên trường.

(Là người đoan chính nét đường đường

Tâm địa thông minh tính thiện lương

Làm việc đa tài lòng đạt lý

Năm ấy vận đến phúc miên trường)

Người sinh tháng Tám, ánh mắt thông minh, có cái nhìn thấu tình đạt lý, chính trực vô tư, có nghệ có tài, là mệnh của văn chương được gần quý nhân, nếu rời nhà xa tổ thì đại quý.

Thơ người sinh tháng Chín

Mãi mại sinh nhân sự sự cường,

Doanh mưu động tác chí hiên ngang,

Nhược năng tu thiện đa tác phúc,

Quản thủ y tư tích mãn tương.

(Sinh ra buôn bán mọi chuyện thông

Mưu trí kinh doanh thỏa tang bồng

Nếu thường tu thiện được nhiều phúc

Nắm giữ tiền tài tích lũy nhiều)

Người sinh tháng Chín, là mệnh của người tính cứng rắn, chiêu thị phi, có uy quyền và được gần người quyền quý, nhân duyên tương khắc, muộn có vợ con.

Thơ người sinh tháng Mười

Thập nguyệt sinh nhân khánh cát tinh,

Tai ương vĩnh thối bất tương xâm,

Trì trai thiện niệm hành phương tiện,

Y lộc phong doanh tự xưng tâm.

(Người sinh tháng Mười sao may mắn

Tai ương chẳng thể tới tương xâm

Ăn chay niệm thiện thì thuận lợi

Y lộc dồi dào tự xứng tâm).

Người sinh tháng Mười, là mệnh của người có tấm lòng của biển lớn, chẳng lười chẳng chăm, trước khó sau dễ, y lộc đầy đủ tấm thân, trước có nữ sau có nam, xuất gia thì khó làm bậc thầy của các đồ đệ, tại gia cũng khó có con cái, vợ chồng có nhiều hình khắc.

Thơ người sinh tháng Một (11)

Tảo niên độc lập tự thành gia,

Y lộc thiên nhiên tự khả khoa,

Cốt nhục đệ huynh vô ỷ kháo,

Tương giao bằng hữu phản tương tri.

(Tuổi trẻ độc lập tự thành gia

Y lộc tự nhiên khuếch trương ra

Anh em cốt nhục không nương tựa

Kết giao bằng hữu phản lẫn nhau).

Người sinh tháng Một (11) là mệnh của người có quyền, tính nóng, lanh lợi, được gần quý nhân, lòng nhiều mưu kế sâu, thân có ám tật, hạn thuở ban đầu thì bình thường, trung hạn và cuối hạn thì được phú quý vậy.

Thơ người sinh tháng Chạp (12)

Sơ hạn cần lao thụ khổ tân,

Tự thành tự lập bất cầu nhân,

Tâm trực khẩu khoái nan tàng độc,

Cốt nhục đoàn viên quá kỷ xuân.

(Đầu hạn cần cù chịu đắng cay

Tự thành tự lập chẳng nhờ ai

Lòng ngay mau miệng không tàng độc

Cốt nhục đoàn viên qua mấy xuân).

Người sinh tháng Chạp, là mệnh của người trăm sự lao khổ, lòng ngay thẳng, mau mồm mau miệng, cũng chủ có ám tật, phụ mẫu huynh đệ vợ con y lộc tự nhiên, được tài lộc của bốn phương, là mệnh bán cát.

(QNB chú: còn các phép phối sao để luận sẽ dịch sau, hiểu được môn này và các môn tiền thân của TVĐS sẽ rất có ích để hiểu sâu về cấu trúc thiết lập nên môn Tử Vi Đẩu Số).

Posted Image

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhất chưởng kinh

Sống an nhiên theo cách Phật dạy (phần 2)

Không cần phải là một tín đồ Phật giáo, việc tạo nghiệp tốt giúp con người sống an nhiên và tâm hồn thảnh thơi, thoải mái hơn. Học cách sống an nhiên tự tại
Sống an nhiên theo cách Phật dạy (phần 2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Không cần phải là một tín đồ Phật giáo, việc tạo nghiệp tốt không chỉ là niềm tin tôn giáo mà còn là những chuẩn mực đạo đức giúp con người sống an nhiên và lành mạnh hơn. Dưới đây là 12 cách tạo nghiệp lành theo quan niệm nhà Phật.


► Xem thêm: Những câu nói hay về triết lý nhân sinh cuộc đời đáng suy ngẫm

12 cach Phat day de song doi an nhien (phan 2) hinh anh
 

7. Tránh sát hại những sinh vật nhỏ nhất

Người ta dễ dàng xâm hại đến sinh mạng của các loài vật, đặc biệt là những loài nhỏ nhất. Phật dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tính, ngay cả những con vật nhỏ nhất cũng có, nhưng vì kiếp này chúng vì nghiệp chướng nặng nề nên phải mang thân hình khác người. Hiểu điều đó, nên cố gắng tránh sát hại một cách vô ý thức, sẽ giúp ta sống khỏe mạnh, không bệnh tật và tăng tuổi thọ về sau.


8. Phóng sinh


Phóng sinh là hành động cứu sống, công đức rất lớn, có thể giúp người làm việc này giảm bệnh tật và kéo dài tuối thọ ngay trong hiện đời. 
 

9. Cúng nước

Cúng chén nước sẽ tạo nhiều công đức và là phương thức để hóa giải những nghiệp xấu về sân hận và những vấn đề khác còn tồn tại trong tâm trí của mình, từ đó mới có thể sống an nhiên.
 

10. Bố thí, đóng góp cho việc từ thiện

Hành động hiến tặng là một cách thức tuyệt vời để tạo nghiệp tốt trong đời sống ngắn ngủi này. Về phương diện tinh thần thì lòng tham lam của mình nhỏ dần lại và biến mất sau một thời gian thực hành việc bố thí.
 
Khi hiến tặng cho người cũng là lúc ta gia tăng tích lũy thiện nghiệp xuất phát từ lòng từ bi. Nếu không có khả năng bố thí tiền bạc thì có thể bố thí thời giờ, công sức, sự hiểu biết hay tài năng của mình, để giúp cho đời sống bớt khổ đau, tất cả những điều này có giá trị ngang với tiền bạc.
 

11. Nuôi cá cảnh

Nuôi cá cảnh để tạo thịnh vượng trong phong thủy rất phổ biến. Nhưng việc nuôi cá còn có mục đích cao hơn về tinh thần. Mỗi buổi sáng khi cho cá ăn hoặc thay nước cho cá, đó là đang tạo nghiệp tốt.
 

12. Sẵn lòng lắng nghe tâm sự của người khác

Khi có người tìm đến mình để mong sự an ủi, chia sẻ hay để nương tựa  thì đừng xua đuổi. Muốn sống an nhiên, hãy sẵn sàng làm bạn với cả những người xa lạ. Dùng tinh thần mạnh mẽ của mình để giúp những người yếu đuối. Chia sẻ kinh nghiệm an lạc của mình với người khác, dù cho người ấy không quen thân với mình là đang tạo nghiệp lành cho chính bản thân.   ST
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sống an nhiên theo cách Phật dạy (phần 2)

Quẻ Quan Âm Tô Nương Tẩu Nạn

Quẻ Quan Âm Tô Nương Tẩu Nạn có bắt nguồn như sau: Dưới đời vua Chu cảnh Vương (tại vị từ năm 544 trước Công nguyên đến năm 520 trước Công nguyên),
Quẻ Quan Âm Tô Nương Tẩu Nạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Bảy trong quẻ Quan Âm, mang tên Tô Nương Tẩu Nạn (còn gọi là quẻ Tô Nương Chạy Nạn). Quẻ Quan Âm Tô Nương Tẩu Nạn có bắt nguồn như sau:

Dưới đời vua Chu cảnh Vương (tại vị từ năm 544 trước Công nguyên đến năm 520 trước Công nguyên), quốc vương nước Bạch Nha ở Tây Phồn đã tiến cống ba báu vật: Chén nóng lạnh (chiếc chén đựng rượu, mùa đông thì ấm, mùa hạ thì mát), thảm tỉnh rượu, chim biết nói. Có được ba báu vật kỳ diệu, hoàng đế hết sức vui mừng.

Một hôm, Chu cảnh Vương đến hậu cung, sai người đem ba báu vật đến, cùng chia sẻ với các phi tần. Chu cảnh Vương rất vui vẻ, sai thị tùng mang chén nóng lạnh, thảm tỉnh rượu và chim biết nói ra, lần lượt nói rõ tác dụng kỳ diệu của ba báu vật đó. Mọi người đều trầm trồ không ngớt. Lúc này, con chim biết nói thấy mọi người nói vui vẻ, cũng kêu liến thoắng như muốn tranh lời với người. Thấy cảnh đó, Chu cảnh Vương cười ha hả, hỏi mọi người rằng: “Ai có thê’ khiến con chim nói chuyện được?” Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai có thế nhận lời. Lúc ấy, vương hậu ở đông cung là Tô Anh nương nương nói rằng, mình có thể nói chuyện được với chim. Và Tô Anh nương nương bắt đầu trò chuyện với con chim, bên này một câu bên kia một câu, khiến Chu cảnh Vương khen ngợi không ngót. Lúc này vương phi Tô Anh đã có thai ba tháng, nên được lập làm chính cung, cho phép quản lý ba vật báu. Tô Anh nương nương vội vàng tạ ơn nhà vua.

Sau khi mọi người đã ra về, vương hậu ở tây cung là Mai Ngọc Xuân rất ghen tức, ôm hận trong lòng, bèn cùng với anh trai là Mai Luân ngầm bàn mưu, lập ra một kế. Một hôm, anh em họ Mai cố ý mượn cớ đến đông cung, nói chuyện vui vẻ một hồi, rồi đề nghị Tô Anh nương nương cùng uống rượu. Mai Ngọc Xuân nhân lúc cùng Tô Anh yến ấm, vờ lảo đảo tựa vào ba vật báu, dùng khuỷu tay thúc mạnh, khiến chiếc chén nóng lạnh rơi xuống vỡ vụn. Mai Ngọc Xuân giả say, đổ rượu ờ trong chén lên chiếc thảm tỉnh rượu, rồi dậm chân lên. Anh trai của Mai Ngọc Xuân cũng nhân cơ hội ngã người đè lên con chim biết nói. Khi Tô Anh nương nương vẫn chưa kịp định thần, thì hai anh em liền vu cáo cho Tô Anh thất đức, rồi trói Tô Anh lại đưa đến trước mặt Chu cảnh Vương. Chu Cảnh Vương đùng đùng nối giận, không để Tô Anh có cơ hội phân trần, định xử Tô Anh tội chết.

Đại thần Phan Cát biết được sự việc, trong lòng thông cảm, muốn tìm cách giải cứu mẹ con Tô Anh. Phan Cát suy đi nghĩ lại, cuối cùng tìm được một cách, nhưng lại phải đánh đối một cái giá quá lớn. Phan Cát suy tính đến nỗi nước mắt đầm đìa, cuối cùng ông đã hạ quyết tâm: dùng chính vợ con mình thế mạng cho Tô Anh. Phan Cát tính cách để đưa vợ mình vào trong ngục, đổi trang phục cho Tô Anh, sau đó giấu Tô Anh nương nương ở nhà mình. Đến đêm ngày thứ hai, dưới sự sắp xếp của Phan Cát, Tô Anh rời khỏi nhà họ Phan, đến nơi đứa cháu của Tô Anh là Tô Kính lánh nạn. Khi trốn đến chùa Bạch Mã, Tô Anh nương nương chuyển dạ, sinh ra một đứa con trai.

Tuy Chu Cảnh Vương đã xử tử Tô Anh nương nương, nhưng Mai Phi vẫn luôn cảm thấy bất an, bèn sai người gieo quẻ, biết là Tô Anh chưa chết, bèn sai người truy sát, nhưng không có kết quả.

Tô Anh sinh ra thái tử ở chùa Bạch Mã, để bọn người của Mai Phi không phát hiện ra thân thế của thái tử, đành phải dằn lòng đem con mình cho một nông phụ nuôi, còn đế lại tín vật đế sau này dễ bề nhận người thân, còn Tô Anh một mình trở lại nhà Tô Kính.
Mười ba năm sau, rồi thái tử cũng biết được thân thế của mình, liền mang tín vật đi tìm mẹ. Cuối cùng, hai mẹ con đã được vui mừng đoàn tụ. Tô Anh nương nương bèn bí mật gửi thư cho Phan Cát, nói rõ nơi ở của hai người.

Lúc này, Chu cảnh Vương đã về già mà không có con kế vị, cũng đã hối hận vì sự nóng vội trước kia của mình. Sau khi Phan Cát nhận được thư của Tô Anh nương, lập tức tấu lên Chu cảnh Vương. Chu Cảnh Vương lập tức sai người đi đón mẹ con Tô Anh về triều, gia phong cho vợ của Phan Cát là Lý thị. Và sau này, Chu cảnh Vương đã truyền lại ngôi vị cho con trai của Tô Anh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm Tô Nương Tẩu Nạn

Mùa Vu Lan báo hiếu, thành tâm nghe Phật dạy về đạo làm con

Hiếu với mẹ cha tức là kính Phật. Ở đời nếu không thờ Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Mùa Vu Lan báo hiếu, cùng ngẫm lời Phật dạy về đạo làm con!
Mùa Vu Lan báo hiếu, thành tâm nghe Phật dạy về đạo làm con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiếu với mẹ cha tức là kính Phật. Ở đời nếu không thờ Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Mùa Vu Lan báo hiếu, cùng ngẫm lời Phật dạy về đạo làm con!   Tháng 7 âm lịch, với nhiều người là tháng âm thịnh dương suy, là tháng cô hồn ngập tràn điều xui xẻo. Song trong truyền thống văn hóa Việt, tháng 7 âm lịch còn là mùa Vu Lan báo hiếu, ghi nhớ và đền đáp công ơn của những đấng sinh thành.    “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

mua vu lan bao hieu nghe phat day ve dao lam con
 
  Hôm nay nhân ngày rằm tháng 7, mùa Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con, nghe Phật pháp giảng về chữ Hiếu, cùng nghĩ suy về hai chữ Hiếu Hạnh trong lời Phật dạy.  

Đạo lý Vu Lan về lòng chí hiếu

  Phật dạy “Thiên kinh vạn quyển, hiếu đạo vi tiên”, có nghĩa là ngàn quyển kinh, vạn quyển sách thì đều tôn vinh hiếu đạo làm đầu. Câu chuyện về ngày lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích Mục Kiều Liên cứu mẹ, không quản ngại khó khăn, nguy hiểm xuống địa ngục dâng mẹ bát cơm, lại thỉnh cầu Đức Phật cùng chư Tăng thành tâm cầu nguyện cho mẹ được thoát khỏi kiếp đọa đày, siêu sinh về nơi thiên giới.


loi phat day ve chu hieu
 
  Noi theo tấm gương hiếu hạnh của Mục Kiều Liên, hàng năm vào dịp rằm tháng 7 âm lịch, những người làm con lại cùng nhau bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới đấng sinh thành, ghi nhớ công lao dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Bao năm tháng qua đi song mùa Vu Lan vẫn còn được duy trì mãi, trở thành một ngày lễ với ý nghĩa nhân văn sâu sắc, ghi đậm dấu ấn về đạo lý làm con, đạo lý làm người, đề cao chữ Hiếu.   Kinh Phật răn rằng: “Tột cùng điều thiện, không gì bằng hiếu. Tột cùng điều ác, không gì bằng bất hiếu.” Không biết tự bao giờ, chữ Hiếu đã trở thành một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá nhân phẩm, nhân cách con người, ai không thành tâm kính hiếu mẹ cha sẽ phải chịu điều bất hạnh trong đời.  

Làm gì để trọn đạo làm con

  “Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu”, việc báo hiếu mẹ cha không phải là điều gì cần đao to búa lớn mà bắt đầu từ những điều nhỏ nhoi trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi ngày chúng ta đang sống đều là một ngày Vu Lan, cả cuộc đời ta đều đang sống trong mùa Vu Lan báo hiếu.    Nhiều người đau đáu nỗi niềm, chẳng biết làm gì trong ngày lễ Vu Lan để cầu an báo hiếu. Kì thực, chẳng cần phải đợi tới ngày lễ mới tỏ lòng thành tâm kính hiếu mẹ cha, phải cúng bái lễ lạt thật to để thể hiện lòng chí hiếu. Hiếu thảo được thể hiện qua từng hành động hàng ngày của chúng ta, ai còn mẹ cha xin chớ quên những điều này, ghi lòng tạc dạ để thành tâm báo hiếu.


lam gi trong ngay vu lan
 
 

1. Cha mẹ dạy bảo, con cái lắng nghe

  Cha mẹ có lời khuyên dạy, phận làm con phải cung kính tiếp nhận. Cha mẹ có buông lời trách phạt thì phải khiêm tốn ăn năn, lắng nghe để kiểm điểm bản thân, sửa đổi chính mình.   Lời cha mẹ răn dạy có khi không vừa ý, nhưng hãy nhớ bậc làm cha làm mẹ trên thế gian này ai ai cũng đều mong con cái trưởng thành đức hạnh, có lời với con cũng chỉ mong con khôn lớn thành người, con cái mà cãi mẹ chống cha tức là không có tâm cung kính.  

2. Chuyện trò, tâm sự cùng cha mẹ

  Không ai là hoàn hảo, cha mẹ có hiểu lầm thì nên kiên nhẫn lắng nghe rồi bình tâm giải thích, nhẫn nhịn cho cơn nóng giận qua đi.   Chúng ta sống trên đời không ai tốt với mình hơn cha mẹ. Những người khác đến rồi đi khỏi cuộc đời ta, chỉ có mẹ cha là người thân mãi mãi, luôn yêu thương chăm sóc chúng ta vô điều kiện, hy sinh tất thảy vì hạnh phúc của cháu con. Thường ngày, hãy dành chút thời gian chuyện trò, tâm sự cùng cha mẹ, để tình cảm được mãi mãi gắn kết, để cha mẹ thấy mình được quan tâm và thấu hiểu.  

3. Yêu thương bản thân cũng chính là yêu thương cha mẹ

  Con cái hiếu thảo, một lòng báo hiếu mẹ cha, thương yêu mẹ cha hết mực, song lại không biết quan tâm chăm sóc chính bản thân mình thì cũng là chưa trọn đạo làm con. Muốn kính hiếu với đấng sinh thành thì chỉ tốt với mẹ cha thôi là chưa đủ, phải tốt với chính mình mới là điều đúng đắn. Phàm bậc cha mẹ đều lấy hạnh phúc của con làm hạnh phúc của mình, con có khỏe mạnh vui vẻ thì cha mẹ mới yên lòng.   Người làm cha làm mẹ dù có phải chịu thiệt thòi cũng vẫn nhường nhịn và bao dung con cái. Cha mẹ đánh con thì đau thấu tâm can, con bất hiếu thì mẹ cha như đứt từng khúc ruột. Cha mẹ và con cái, đó là mối quan hệ chẳng gì có thể cắt rời, nếu ấm êm thì đôi bên hạnh phúc, lỡ có bất hòa thì cha mẹ đắng cay.   Mùa Vu Lan báo hiếu, ai còn cha mẹ xin lắng tâm ngẫm lời Phật dạy, đừng để lệ buồn vương lên mắt mẹ cha. Ai lỡ không còn mẹ cha xin thành tâm cầu chúc cho đấng sinh thành được vô vi siêu thoát, đọc kinh dâng Phật ban phúc cho mẹ cha trong những kiếp sau này.

Thiên Thiên

Có thể bạn chưa biết: Lễ Vu Lan ngày mấy? Tụng kinh Vu Lan - trọn phận làm con, trọn đạo làm người Câu chuyện cảm động phía sau ngày lễ Vu Lan

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mùa Vu Lan báo hiếu, thành tâm nghe Phật dạy về đạo làm con

Quan sát tướng mặt để lấy lòng mẹ chồng (P1)

Những nàng dâu thông minh luôn đoán được tính cách cũng như bản chất thực của mẹ chồng qua tướng mặt, từ đó có cách cư xử khéo léo.
Quan sát tướng mặt để lấy lòng mẹ chồng (P1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những nàng dâu thông minh luôn đoán được tính cách cũng như bản chất thực của mẹ chồng qua tướng mặt, từ đó có cách cư xử khéo léo, dung hòa mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu.
 

1. Mẹ chồng mặt dài
 
Người có tướng mặt nhỏ và dài thường khá cố chấp, hay nói nhiều và dễ nổi giận. Do đó, để chiều lòng mẹ chồng như vậy đòi hỏi nàng dâu phải nắm bắt được tâm tính, thói quen, sở thích. Khi đã “nằm lòng” những điều đó, bạn sẽ dễ dàng tạo dựng mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu hòa thuận. 
 
2. Mẹ chồng mặt tròn
 
Đặc trưng thường thấy ở những người có khuôn mặt tròn là tính cách hướng ngoại, vô tư, thích tận hưởng sự thoải mái nhưng hơi lười nhác. Tướng mặt mẹ chồng này cho thấy đây là người không chấp vặt, nhân duyên tốt nhưng thường hay xử lí mọi chuyện bằng cảm tính và có xu hướng bi lụy.

Quan sat tuong mat de lay long me chong P1 hinh anh
Ảnh minh họa

Cách tốt nhất để lấy lòng được mẹ chồng này là dựa vào tâm trạng để ứng phó. Nên tranh thủ thời gian mời bà đi ăn uống, chia sẻ tâm tư tình cảm, đặc biệt mọi việc lớn nhỏ trong gia đình đều phải gánh vác hoặc chí ít tỏ ra có tinh thần trách nhiệm. Như vậy, mẹ chồng bạn cảm thấy được nhàn rỗi, có thời gian hưởng thụ nên tâm trạng thoải mái và yêu thương bạn hơn.
 
3. Mẹ chồng mặt vuông vức
 
Đa số người có khuôn mặt vuông vức thường rất nguyên tắc trong đối nhân xử thế và là tuýp người sống thực tế, có kỉ luật rõ ràng. Với kiểu mẹ chồng này đòi hỏi nàng dâu cũng phải có những biểu hiện mang tính thực tế.

Khi xử lí công việc gia đình, bạn không được quá qua loa, phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định và phù hợp với tình hình hiện thực thì mẹ chồng mới hài lòng. 
 
Do đó, bạn không cần phải chau chuốt về hình thức mà chỉ cần chú ý đến những chi tiết việc làm cụ thể. Trước mặt mẹ chồng, cần ăn nói nhỏ nhẹ, cử chỉ không quá tùy tiện và chú ý đến các phép tắc. 
 
Ngoài ra, người này có xu hướng bảo vệ con đẻ của mình. Nếu xảy ra sai sót, bà không bao giờ oán trách chồng bạn, mà chỉ trách bạn không biết cách xử lí. Thậm chí người này sẽ chê trách nói xấu bạn trước mặt mọi người. Do đó, cần phải có cách cư xử lễ độ, chuẩn phép tắc.
 
Theo Thuật xem tướng mặt và tướng bàn tay  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quan sát tướng mặt để lấy lòng mẹ chồng (P1)

Mùa sinh mang lại hạnh phúc và may mắn cho 12 con giáp

Ngoài ngày, tháng, năm và giờ sinh ra, mùa sinh cũng là một trong những yếu tố quan trọng để phán đoán cuộc đời của mỗi người có thành đạt hay không.
Mùa sinh mang lại hạnh phúc và may mắn cho 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mùa xuân: Mão, Mùi, Hợi

Mùa xuân đánh dấu khởi đầu của một năm mới, của sức sống đâm chồi nảy lộc, cũng là thời điểm "vàng" để chào đời cho người nào cầm tinh một trong ba con giáp Mão, Mùi, Hợi. Những ai thuộc ba tuổi này mà may mắn sinh vào mùa xuân đều rất thông minh, sáng dạ, tiền đồ rộng mở, hanh thông. Ngay từ khi lọt lòng, cuộc đời của họ đã rất thuận lợi và may mắn, không gặp nhiều trắc trở kể cả trong học hành, thi cử hay công việc. Đã vậy, tính cách còn cởi mở, ôn hòa và lạc quan, tươi sáng như mùa xuân vậy, nên ai gặp cũng yêu mến, được quý nhân phù trợ. Nhìn chung, vận mệnh của họ rất êm đềm, thuận buồm xuôi gió.

Mùa hạ: Sửu, Tị, Dậu

Mùa hè là thời điểm phát triển rực rỡ nhất của muôn loài, của sức trẻ và những đam mê cuồng nhiệt. Những người cầm tinh Trâu, Rắn, Gà mà sinh vào mùa hè tuy không được "may mắn từ trong trứng" như Hợi, Mão, Mùi sinh vào mùa xuân, nhưng chỉ cần họ không ngừng phấn đấu thì ắt sẽ giàu có tột đỉnh, vinh hoa phú quý đầy mình. Độ tuổi dễ thành đạt nhất của những người này là từ năm 25 - 30 tuổi. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi mùa sinh, những người này thường khá "cục tính", thẳng thắn và thật thà, không thích quỵ lụy ai hết, do vậy dễ làm mất lòng người khác. Khắc phục được nhược điểm này, họ sẽ còn may mắn gấp bội phần.

Mùa thu: Dần, Ngọ, Tuất

Mùa thu là mùa lá vàng rơi, là thời điểm thu hoạch. Những người tuổi Dần, Ngọ, Tuất sinh vào mùa thu sẽ may mắn hơn những người cùng tuổi khác. Họ tuy không thành công sớm, khá vất vả khi mới lập nghiệp. Song với ý chí mạnh mẽ, bền bỉ và nhẫn nại của mình, tầm 30 - 35 tuổi, những con giáp này sẽ ngập trong tiền tài và danh vọng. Những người này thường chín chắn, điềm đạm, nhu mì, ít khi gây hiềm khích bên ngoài, nên không có kẻ ngáng chân làm hại trên con đường công danh của mình. Cuộc sống gia đình cũng rất thuận hòa, yên bình. Tiền tài tuy đến muộn nhưng phúc lộc dồi dào, được cả tình lẫn tiền.

Mùa đông: Tý, Thìn, Thân

Sinh vào thời điểm cuối năm, khi mà vạn vật đều đang ẩn mình đợi thời điểm thích hợp để sinh sôi nảy nở, những người tuổi Tý, Thìn, Thân chào đời vào mùa đông cũng thừa hưởng những tính cách như chính mùa sinh của mình: cực kỳ khôn ngoan, lanh lợi nhưng lại che giấu điều đó trong cái vỏ ngoài khiêm tốn, e dè, trầm tĩnh. Con đường đi đến vinh quang của những người này không trải sẵn hoa hồng. Họ đều phải tự thân vận động và thực sự cố gắng trong một quá trình dài mới đạt được danh lợi. Rất may, nỗ lực của họ đều được đền đáp xứng đáng. Tầm 35 - 40 tuổi là thời điểm chín muồi cho ba con giáp này phát triển rực rỡ cả về công danh lẫn tiền bạc, sống trong sung sướng đến hết đời. Tài lộc tuy không đến nhanh với họ, nhưng chậm mà chắc.

Alexandra V (Tổng hợp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mùa sinh mang lại hạnh phúc và may mắn cho 12 con giáp

Các sao xấu – Hung tinh –

1. Sao Cang - Nguyên (Cang Kim long) - hành Kim - sao xấu Ngày có sao Cang - Nguyên chiếu cần tránh chôn cất người qua đời; cưới, hỏi; mọi việc thương mại buôn bán. 2. Sao Đê (Đê Thổ lạc) - hành Thổ - sao rất xấu Ngày có sao này không nên động thổ;

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

H 1

1. Sao Cang – Nguyên (Cang Kim long) – hành Kim – sao xấu

Ngày có sao Cang – Nguyên chiếu cần tránh chôn cất người qua đời; cưới, hỏi; mọi việc thương mại buôn bán.

2. Sao Đê (Đê Thổ lạc) – hành Thổ – sao rất xấu

Ngày có sao này không nên động thổ; dựng nhà; cưới hỏi; kinh doanh; ký kết; giao dịch; xuất hành.

Thơ rằng:
“Đê tinh rất hung đủ mọi đường

Động thổ, hôn nhân dễ tai ương

Giao thương, ký kết, thuyền dễ đắm

Xuất hành, xây cất, thật buồn thương”.

3. Sao Tâm (Tâm Nguyệt hồ) – hành Kim – sao rất xấu

Ngày có sao Tâm chiếu không nên cưới xin, đính hôn, kinh doanh, kiện cáo.

* Đó là 3 sao rất xấu (đại hung) trong cụm Thanh long ở hướng Đông.

4. Sao Ngưu (Ngưu Kim ngưu) – hành Kim – sao xấu

Ngày có sao này làm gì cũng hao tốn sức lực và tiền của mà không có kết quả.

5. Sao Nữ (Nữ Thổ bấc) – hành Thổ – sao xấu

Ngày có sao này kiêng giao dịch, ký kết, sinh đẻ.

Thơ rằng:
“Nữ tinh là nữ phải giữ mình

Sinh đẻ canh chừng chớ coi khinh

Giao dịch, hợp đồng phòng lừa đảo

Tổn hao tài sản, lụy đến mình”.

6. Sao Hư (Hư nhật thử) – hành Hỏa – sao xấu

Cần thận trọng trong quan hệ yêu đương, dễ dang dở nên nam nữ cần tránh quá đà.

Có thơ rằng:
“Sao Hư chiếu tới chủ tai ương

Nam nữ gần nhau phải giữ chừng

Một phút quá đà hoa dễ héo

Mối tình rất khó mãi yểu thương”.

7. Sao Ngụy (Ngụy nguyệt yếu) – hành Kim – sao xấu

Ngày có sao này tránh làm nhà, kinh doanh vì làm nhà không chắc được ở, kinh doanh thua lỗ.

Các việc hiếu (đến đám tang, cúng bái) đều nên tránh.

* Đó là 4 ngôi sao mang lại điều chẳng lành trong cụm sao Huyền vũ ở hướng Bắc.

8. Sao Mão ngang (Mão Nhật kê) – hành Hỏa – rất xấu

Ngày có sao này tránh làm nhà, gây giống, chăn nuôi, nhậm chức, đính hôn, cưới; nếu làm nhà có thể thiệt người, làm quan dễ gặp họa, hôn nhân không hạnh phúc.

9. Sao Chủy (Chủy hỏa cầu) – hành Hỏa – sao xấu

Ngày có sao Chủy cần thận trọng trong việc chính quyền, kiện tụng, quan chức; dễ mắc họa tai; dễ bị điều tiếng.

* Đây là hai sao xấu trong cụm sao Bạch hổ ở hướng Tây.

10. Sao Quỷ (Quỷ kim dương) – hành Kim – rất xấu

Ngày có sao này nếu làm nhà thì chủ sẽ thiệt mạng, cưới hỏi nên tránh. Riêng các việc hiếu, tang thì được.

11. Sao Liễu (Liễu thổ chương) – hành Thổ – rất xấu

Ngày có sao này làm gì cũng hao tổn và nguy hại, phải thận trọng. Nên làm điều thiện.

12. Sao Dực (Dực hỏa xà) – hành Hỏa – sao rất xấu

Ngày có sao này tránh làm nhà; quan hệ yêu đương cần thận trọng.

* Lưu ý:
Các ngôi sao này được đề cập ở lịch vạn niên.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các sao xấu – Hung tinh –

Cách trang trí Giáng Sinh theo phong thủy –

Trang trí giáng sinh hợp phong thủy sẽ giúp giảm thiểu mức độ căng thẳng và thúc đẩy một luồng cân bằng năng lượng trong nhà của bạn. Giáng sinh là truyền thống của phương Tây nhưng không vì thế mà lại thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của phong thủy phương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trang trí giáng sinh hợp phong thủy sẽ giúp giảm thiểu mức độ căng thẳng và thúc đẩy một luồng cân bằng năng lượng trong nhà của bạn.

Giáng sinh là truyền thống của phương Tây nhưng không vì thế mà lại thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của phong thủy phương đông. Trang trí giáng sinh hợp phong thủy sẽ giúp giảm thiểu mức độ căng thẳng và thúc đẩy một luồng cân bằng năng lượng trong nhà của bạn.

0AF-phongthuy-gs

Mỗi năm đến Giáng sinh, việc trang trí nội thất cho ngôi nhà lại là vấn đề rất được quan tâm của mỗi gia đình. Không chỉ đơn thuần là hợp không khí mà thực sự đó là một cách đổi mới và thể hiện sự sáng tạo của tất cả các thành viên gia đình. Nhưng liệu những sự trang trí của bạn có hợp phong thủy không? Nếu bạn nghĩ rằng phong thủy là không cần thiết thì có thể bạn sẽ nên cân nhắc một chút. Vì trang trí giáng sinh hợp phong thủy sẽ giúp gia đình xua tan căng thẳng và thúc đẩy một luồng cân bằng năng lượng trong nhà của bạn. Vậy tại sao không vừa trang trí nhà đẹp lại vừa có lợi cho cuộc sống của cả nhà? Hãy chú ý một số tư vấn phong thủy sau:

16E-trangtrigiangsinh_2

Các yếu tố phong thủy mạnh mẽ trong mùa giáng sinh cũng cần được chú ý và cân bằng với những gam màu mát và trung tính. Màu sắc dùng để trang trí nội thất phòng khách cho đêm Noel cần phải được phối cách hài hòa tương sinh, tương hợp với môi trường xung quanh, với tâm lý tình cảm sở thích và trạch mệnh của chủ nhân. Bởi màu sắc cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe và tâm lý con người. Những gam màu sáng luôn là sự chọn tốt nhất với khả năng cân bằng tốt và phù hợp với đa phần tâm lý tình cảm.

DE6-trangtrigiangsinh_3

Ngoài tính năng giúp thanh lọc tất cả các trung tâm năng lượng trong ngôi nhà, việc trang trí các yếu tố lửa như nến hay lò sưởi xung quanh nhà cũng sẽ giúp năng lượng cá nhân của bạn càng được tăng cường. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý, nên sắp xếp một nhóm những cây nến nhiều màu sắc và sử dụng chúng vào buổi tối. Tránh đốt nhiều nến ở khu vực phía Đông, vì đây là khu vực có ảnh hưởng đến sức khỏe và hạnh phúc của bạn.

C4A-trangtrigiangsinh_16

Và thông thường thì cây thông noel là vật trang trí không thể thiếu trong đêm giáng sinh này. Tuy nhiên, việc đặt cây thông cũng không kém phần quan trọng trong việc trang trí khi xét về mặt phong thủy. Nếu bạn có nhiều lựa chọn, hãy xem xét việc đặt cây thông noel tại một trong các khu vực phong thủy: Nam, Đông, Đông Nam hoặc trung tâm của căn phòng. Các vị trí này sẽ mang lại sự cân bằng cho năm yếu tố Phong thủy.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách trang trí Giáng Sinh theo phong thủy –

Nằm mơ thấy người chết báo điềm gì? –

Trong cuộc sống, không ít người nằm mơ thấy xác chết. Khi đó, chúng ta thường thắc mắc giấc mơ lạ lùng này ẩn chứa ý nghĩa gì? Là điềm báo tốt hay xấu? Thực tế, có rất nhiều loại giấc mơ liên quan đến người chết và chúng có những ý nghĩa khác nhau. T
Nằm mơ thấy người chết báo điềm gì? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nằm mơ thấy người chết báo điềm gì? –

Nên làm gì vào ngày Thần Tài để đem lại may mắn, tài lộc?

Theo quan niệm dân gian, mùng 10 tháng Giêng là ngày vía Thần Tài. Ngày này nhiều nhà, công ty, cửa hàng… sắm lễ vật để cúng lấy vía Thần Tài, cầu xin một năm mới may mắn, làm ăn được thịnh vượng về tài lộc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo tín ngưỡng cha ông, người dân muốn năm mới nhiều tài lộc, làm ăn thuận lợi, tiền bạc rủng rỉnh thì nên mua vàng vào ngày mùng 10 tháng Giêng lấy may.

Thực tế cho thấy, nhu cầu mua vàng của người dân vào ngày này là rất lớn, tuy nhiên chủ yếu là mua những miếng vàng từ 5 phân đên nửa chỉ cầu may mắn chứ không mang tính chất thương mại.


nen lam gi vao ngay than tai de dem lai may man, tai loc? - 1

Nhiều người tin rằng, xuất tiền mua vàng đầu năm sẽ đem lại rất nhiều may mắn trong năm mới. Ảnh minh họa

Ngoài ra, vào ngày vía của Thần Tài mọi người cũng thường mua: 1 bình bông, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa ngũ quả, chum rượu, để cúng lấy vía Thần Tài, cầu xin cho năm mới làm ăn phát đạt.

Đồ cúng thường là các món ăn ngon như heo vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hàng ngày… Dân gian truyền miệng Thần Tài rất thích món Cua biển và heo quay, chuối chín vàng.

Theo chuyên gia Nguyễn Mạnh Linh - Trưởng Phòng Phong thủy Kiến trúc Viện Quy hoạch & Kiến trúc Đô thị - Đại học Xây dựng thì việc làm lễ đón thần tài được cho là rất quan trọng vì theo dân gian, có đón thần tài mới bổ sung thêm được tài lộc trong năm. Người làm kinh doanh, không làm kinh doanh đều làm lễ giống nhau, chỉ khác là địa điểm. Người làm kinh doanh thờ thần tài nên làm lễ ở nơi kinh doanh chứ không nên làm ở đình, chùa. Người không kinh doanh có thể cúng ở nhà hay đình chùa đều được, vì bản thân "thổ địa" thờ tại nhà cũng kiêm chức năng của thần tài.

Tốt nhất ở nhà riêng nên đặt mâm cúng trong nhà. Đồ lễ đơn giản, lễ vừa phải, không xa xỉ lãng phí mới được thần tài chú ý, chỉ cần hoa tươi, quả tươi, nước sạch.

Một số lưu ý nên làm vào ngày Thần Tài:

Ngoài ngày mùng 10 tháng Giêng, hàng tháng nên lau bàn thờ, tắm cho Thần Tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần Tài không được dùng vào việc khác.

- Hương: Có nơi cho rằng thắp vào sáng, có nơi cho rằng cần thắp vào chiều tối, thực ra là không cần thiết và không có quy định cụ thể. Có thể chọn giờ tốt cho cúng lễ trong ngày hoặc chọn ngày giờ tốt có sao tốt đến để kích hoạt trường khí dễ hơn.

- Nước: Chén để nước cần rửa sạch trước khi lấy nước mới. Chỉ cần một chén nước là đủ, chứ không phải ba hay năm chén. Nước không để quá đầy, cần cách miệng chén khoảng 1 cm. Cẩn thận không để nước tràn ra hoặc đổ lên bàn.

- Hoa: Bình hoa có thể bằng thủy tinh, gốm sứ... đều được. Chỉ nên chọn hoa tươi, hoa có nụ và có hương thơm càng tốt. Không nên dùng hoa giả.

- Quả: Quả nên chọn loại tươi, ngon, nhìn nguyên vẹn, thường dùng táo, lê, chuối, cam, quýt... Cũng như hoa, không dùng quả nhựa, quả nhân tạo không ăn được.

- Đèn, nến: Đèn cúng là đèn thật như đèn dầu, nến. Không dùng đèn nhấp nháy, đèn điện... vì đều tạo ra trường khí xấu, ảnh hưởng đến việc thờ cúng.

- Gạo, muối thì cất lại dùng cho có lộc, không được rãi ra ngoài.- Rượu hay nước thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào.

- Bộ tam sên hay bánh trái chia nhau trong nhà dùng không cho người ngoài.

- Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài.

Sự tích Thần tài và tục thờ thần tài

Ngày xưa, có một lái buôn tên là Âu Minh, khi đi thuyền qua hồ Thanh Thảo, được Thủy Thần tặng cho một cô hầu gái tên là Như Nguyện. Âu Minh đưa Như Nguyện về nuôi trong nhà. Sự buôn bán từ ngày đó trở đi càng ngày càng phát đạt, chỉ trong vòng vài năm mà Âu Minh trở thành một nhà giàu có lớn.

Một hôm, vào Tết Nguyên đán, Âu Minh tức giận đánh Như Nguyện làm nó sợ hãi, chui vào đống rác trốn mất.

Kể từ đó, việc buôn bán của Âu Minh bắt đầu thua lỗ sa sút, chẳng bao lâu thì sạt nghiệp, trở nên nghèo khổ.

Người ta cho rằng, Như Nguyện là Thần tài. Lúc Âu Minh nuôi Như Nguyện trong nhà thì Thần tài ủng hộ nên làm ăn phát đạt. Tới khi Như Nguyện bị đánh rồi bỏ đi thì Thần tài không còn chiếu cố Âu Minh nữa nên làm ăn sa sút, thất bại.

Do sự tích nầy, người ta có tục kiêng cử quét rác và hốt rác trong ba ngày Tết, sợ Thần tài không có chỗ ẩn trốn mà đi nơi khác thì việc làm ăn trong năm sẽ bị xui xẻo thất bại.

Cũng do sự tích nầy mà người ta lập bàn thờ Thần tài sát nền đất hay nền gạch, không đặt cao như các bàn thờ khác, và đặt ở góc nhà hay nơi hàng hiên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nên làm gì vào ngày Thần Tài để đem lại may mắn, tài lộc?

11 lý do để nên có thạch anh, đá quý phong thủy –

Thạch Anh ẩn chứa trong nó những sức mạnh bí ẩn gì khi đặt ở các vị trí khác nhau trong nhà? Theo Phong thủy, đặc tính của thạch anh là đá thiên nhiên có dương khí rất mạnh, vì trải qua vài triệu năm hình thành, đá thạch anh thu hút năng lượng dương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thạch Anh ẩn chứa trong nó những sức mạnh bí ẩn gì khi đặt ở các vị trí khác nhau trong nhà?
Theo Phong thủy, đặc tính của thạch anh là đá thiên nhiên có dương khí rất mạnh, vì trải qua vài triệu năm hình thành, đá thạch anh thu hút năng lượng dương cực mạnh, có thể đem đến sự may mắn trong cuộc sống và công việc, chống lại sự ảnh hưởng của năng lượng xấu.

88-thach-anh-tim

1. Gia đình bình an – tài vận thông thuận

Sử dụng quả cầu Thạch Anh, động Thạch Anh, Thạch Anh lục trụ hoặc Thạch Anh đen đặt ở các góc nhà.
Tác dụng: Truyền khí từ tường, không những bảo hộ gia trung bình an, tránh tà mà còn giúp lưu thông không khí trong nhà đem lại nhiều may mắn.

2. Cải thiện phong thủy và tích tài khí

Đặt động Thạch Anh trong nhà có tác dụng hóa xung giải sát, ngoài ra còn có thể tích phú, tích lộc.

3. Trấn thạch, tránh tà, vừa vượng vừa phát

Đặt động Thạch Anh hoặc Thạch Anh hình trụ ở góc tài lộc ở trong phòng làm việc, công ty hoặc trong nhà có tác dụng trấn an – tránh tà – chặn sát khí, giúp bạn làm ăn thịnh vượng, phát đạt.

4. Tăng cường phát triển trí tuệ và ổn định trạng thái tinh thần

Đặt Thạch Anh tím trên bàn học hoặc đầu giường giúp bạn phát huy trí tuệ và cải thiện thị lực.

5. Khử sóng từ phát ra từ tivi, máy tính, lò vi sóng

Bên cạnh tivi, máy tính, lò vi sóng đặt một sản phẩm thuộc gia tộc họ Thạch Anh trắng, có tác dụng giảm bớt bức xạ phát ra.

6. Nhà không được hướng

Đối diện chính cửa ra vào là đường cái hoặc vị trí nhà ở góc đường hình chữ L, cửa nhà có cây to hoặc cột điện nên treo trước cửa ra vào một quả chuông gió bằng đá thuộc họ Thạch Anh hoặc góc nhà hướng cửa ra vào đặt động Thạch Anh tím có thể tránh tà.

7. Khử mùi

Cửa nhà vệ sinh treo Thạch Anh hoặc đặt Thạch Anh có thể giải uế khí.

8. Hiện tượng bóng đè

Đầu giường hoặc dưới chân giường nên để một tảng Thạch Anh hình trụ hoặc một sản phẩm bất kỳ thuộc họ Thạch Anh có thể hóa giải hiện tượng bị bóng đè.

9. Nơi buôn bán

Tại quầy bán hàng đặt thạch anh tím hoặc màu phấn hồng giúp tăng cường nhân duyên và duyên bán hàng.

10. Cách cầu tài

Dùng Trận thất tinh hoặc Thạch Anh vàng cầu tài, gây dựng sự nghiệp – tài phúc.

11. Cải thiện tình cảm, thắt chặt nhân duyên

Đầu giường đặt Thạch Anh hồng có tác dụng dung hòa tình cảm giữa bạn bè, người thân, cải thiện mối quan hệ chăn gối hai vợ chồng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 11 lý do để nên có thạch anh, đá quý phong thủy –

Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh

Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh có bắt nguồn như sau Năm Trinh Quán thứ ba đời vua Đường Thái Tông), Đường Tăng từ Lương Châu qua cửa ải Ngọc Môn
Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Ba lăm trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Đường Tăng Thủ Kinh (còn gọi là Đường Tăng Lấy Kinh). Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh có bắt nguồn như sau:

Năm Trinh Quán thứ ba đời vua Đường Thái Tông (tức năm 629, cũng có thuyết cho là năm Trinh Quán thứ nhất), Đường Tăng từ Lương Châu qua cửa ải Ngọc Môn đi sang phương Tây, một mình trải qua rất nhiều gian nan nguy hiểm, đi qua các vùng Tần Lương và Cao Xương, đến khu vực phía bắc của Thiên Trúc, suốt dọc đường lễ Phật và thăm viếng các di tích của thánh nhân xưa. Sau đó đi xuống phía nam, đến nước Ma Yết Đài. Ban đầu bái Giới Hiền ở chùa Na Lan Đà (Nalanda) làm thầy, sau lại đi học hỏi khắp các nơi ở Thiên Trúc, lại cùng luận bàn với các học glả ở địa phương, tiếng tăm vang khắp Ngũ Trúc

Sau đó, Đường Tăng học tại chùa Nalanda, làm học trò của Giới Hiền, học “Du Già sư địa luận”, lại học các luận khác như “Hiển Dương luận”, “Bà Sa luận”, “Câu Xá luận”, “Thuận Chính lý luận”, “Nhân Minh luận”, “Thanh Minh luận”, tìm tòi nghiên cứu sâu về các bộ phái của Phật giáo trong suốt năm năm. Sau đó, đi khắp đất nước Ấn Độ, thăm hỏi khắp các bậc danh hiền, xin được chỉ giáo, tìm hiểu kinh Phật viết bằng tiếng Phạn. Ổng đi khắp nơi học hỏi như thế trong suốt mười hal năm, lại trở về chùa Nalanda, theo lệnh của sư Giới Hiền, giảng dạy “Nhiếp Đại Thừa luận”, “Duy Thức Quyết Trạch luận”. Lúc này có một vị kinh sư tên là Tử Quang, rất giỏi giảng dạy về hai luận là “Trung luận” và “Bách luận”, vị này bài xích học thuyết của Đường Tăng. Đường Tăng bèn kết hợp với hai tông phái là Trung Quán và Du Già, làm thành ba trăm bài tụng có tên là “Hội tông luận” để phản bác lại đối phương; sau đó lại làm ra một nghìn sáu trăm bài tụng gọi là “Phá Ác Kiến luận” để phản bác lại “Phá Đại Thừa luận” của luận sư dòng Tiểu Thừa nước ô Đồ, vì thế mà tiếng tăm nối khắp Ngũ Trúc.

Vua Giới Nhật và các Quốc vương khác nghe danh tiếng của Đường Tăng, cũng tranh nhau diện kiến. Năm đó Đường Tăng bốn mươi mốt tuối, có ý muốn quay về đông, trở về đất Trung Quốc. Vua Giới Nhật bèn tổ chức Đại Pháp hội cho Đường Tăng tại đô thành Khúc Nhữ (Kannauj), quốc vương của mười tám nước trên khắp năm vùng của Ấn Độ đều có mặt, hòa thượng của Đại Thừa, Tiểu Thừa và hơn bảy nghìn người của đạo Bà La Môn cũng đến tham dự, đây chính là Đại hội biện luận ở thành Khúc Nhữ nối tiếng trong lịch sử Phật giáo. Đường Tăng được mờl làm Luận chủ (người xướng đạo chủ yếu của mỗi học thuyết), tuyên dương Phật giáo Đại Thừa, đưa ra bài tụng “Chân duy thức lượng”, treo ngoài cống của hội trường, treo suốt tám ngày mà cuối cùng không có ai đưa ra lập luận đế phản bác được quan điếm của ông. Vua Giới Nhật lại càng hậu đãi ông, Quốc vương của mười tám nước sau khi tham dự đại hội này cũng trở thành đệ tử của Phật giáo Đại Thừa.

Sau khi đại hội kết thúc, Đường Tăng nhất quyết từ biệt trở về, Vua Giới Nhật muốn giữ lại không được, bèn triệu tập mười tám Quốc vương, tố chức đại hội Vô Già kéo dài bảy mươi lăm ngày tại đô thành Bát La Na Già, mở tiệc tiễn đưa rất long trọng.

Năm Trinh Quán thứ 19 (năm 645), Đường Tăng chính thức trở về Đông thố. Sau khi về đến Trường An, Đường Tăng tổ chức dịch kinh Phật, tống cộng dịch được bảy mươi lăm bộ kinh, luận, gồm tất cả một nghìn ba trăm ba mươi lăm quyển. Các bộ kinh Phật được dịch, phần lớn dùng cách dịch trực tiếp, bút pháp nghiêm cẩn, được người đời gọi là “tân dịch”. Những bộ kinh Phật này không chỉ đã làm phong phú cho văn hóa của Trung Quốc cố đại, mà còn bảo tồn được những bộ điển tịch quý giá của Phật giáo Ấn Độ thời cố.

Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm !


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh

Phù dâu, phù rể và quan niệm mất duyên

Qua những chia sẻ trên, các cặp đôi sẽ không phải đối mặt với sự ngần ngại “mất duyên” khi mời các chàng trai, cô gái bê tráp trong lễ ăn hỏi của mình
Phù dâu, phù rể và quan niệm mất duyên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phù dâu phù rể là những người đóng vai trò quan trọng và có nhiệm vụ trợ giúp cô dâu chú rể trong đám cưới. Mặc dù là những người thân thiết và gần gũi với cô dâu chú rể nhưng nhiều bạn gái vẫn ngần ngại khi nhận được lời mời bê tráp hay làm phù dâu vì lo sợ “mất duyên”. Qua bài viết này, sẽ cùng các cặp đôi tìm hiểu về quan niệm “mất duyên” và cách “giữ duyên” cho những người trợ giúp đáng yêu này.

Quan niệm “mất duyên”

Theo phong tục truyền thống, thành viên trong đội bê đỡ tráp trong các lễ ăn hỏi đều phải là thanh niên chưa kết hôn. Vì vậy, trước đây có quan niệm những ai thường xuyên tham gia bê đỡ tráp sẽ “mất duyên” và khó lập gia đình. Tuy nhiên, đây chỉ là quan niệm không có căn cứ và chưa được kiểm chứng.

Vì quan niệm này nên đã có không ít cô gái ngần ngại không nhận lời đi đỡ tráp vì lo lắng bị mất duyên. Tuy vậy, trong thực tế cũng có nhiều cô gái tìm thấy một nửa của mình trong đám cưới mà họ tham gia, bởi những chàng trai trong đội bê tráp nam thường vẫn còn độc thân và có độ tuổi tương đương với các cô gái.

Các cách “giữ duyên”

Để các chàng trai, cô gái yên tâm hỗ trợ cô dâu chú rể trong hôn lễ, các gia đình tổ chức đám cưới cũng đưa ra những cách thức “giữ duyên” cho đội bê, đỡ tráp bằng cách chuẩn bị bao lì xì có tiền may mắn để đội bê tráp nhà trai và đỡ tráp nhà gái đáp lễ cho nhau. Sau khi kết thúc nghi lễ trao tráp, hai bên sẽ “lại duyên” trước sự chứng kiến của gia đình hai họ. Món tiền nhỏ nhưng đặc biệt quan trọng vì nó mang ý nghĩa mong muốn các chàng trai và cô gái sau này có cuộc hôn nhân thuận lợi, trôi chảy.

Không chỉ thế, với đám cưới hiện đại ngày nay, cô dâu chú rể còn chuẩn bị thêm các món quà nhỏ xinh xắn để tặng những người trợ giúp đắc lực của mình. Tặng phẩm kỷ niệm ấy không nhất thiết phải đắt tiền, tốn kém mà mang ý nghĩa tinh thần nhằm thể hiện tình cảm thân thiết của những người bạn dành cho nhau. Chắc hẳn các cặp đôi đều mong muốn món quà kỷ niệm đáng yêu ấy sẽ luôn gợi nhớ trong tâm trí bạn bè những kỷ niệm vui và khoảnh khắc hạnh phúc đáng nhớ của ngày trọng đại sau khi đám cưới kết thúc.

Hi vọng qua những chia sẻ trên, các cặp đôi sẽ không phải đối mặt với sự ngần ngại “mất duyên” khi mời các chàng trai, cô gái bê tráp trong lễ ăn hỏi của mình nữa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phù dâu, phù rể và quan niệm mất duyên

Top 3 con giáp khôn vặt nhất

Con người ai cũng có lòng tham, có người vì để đạt được thứ mình muốn mà sẵn sàng bất chấp thủ đoạn.
Top 3 con giáp khôn vặt nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

No1. Tuổi Tý

Người tuổi Tý bẩm sinh không giỏi vạch ra mục tiêu lâu dài, họ thường không có tầm nhìn xa rộng, chỉ thấy được cái lợi trước mắt, vì vậy dễ vì chút lợi ích nhỏ mà tìm mọi cách có được, thậm chí không ngại trở mặt với người khác. Thói so đo tính toán chi li của họ lại trở thành rào cản khiến họ mất đi rất nhiều mối quan hệ và cơ hội tốt. Tuy nhiên bản thân họ thường không nhận ra khuyết điểm này. Họ luôn nghĩ rằng mình là người thông minh vì rất tinh khôn trong những chuyện vặt vãnh.

top-3-con-giap-khon-vat-nhat

No2. Tuổi Thân

Sở thích của người tuổi Thân rất nhiều. Họ bẩm sinh cũng rất lanh lợi, một khi muốn thứ gì thì họ luôn có cách của riêng mình để đạt được, bất chấp điều đó có thể sẽ tổn hại lợi ích của người khác thì họ cũng không quan tâm. Con người này để thỏa mãn ham muốn cá nhân, đôi khi là những thứ rất tầm thường, họ sẵn sàng dùng mưu mô và cho rằng mình là người thông minh tài trí.

No3. Tuổi Tuất

Con người tuổi này bản tính khá ích kỷ, luôn xem trọng cảm giác và lợi ích của bản thân. Một khi tư lợi xảy ra xung đột với lợi ích tập thể, họ chắc chắn sẽ chọn lợi ích của riêng mình mà bất chấp quay lưng lại với người khác. Tuy vậy, thông thường họ chỉ chiếm được những thứ lợi ích vặt vãnh, đổi lại cái giá phải bỏ ra là họ mất đi không ít bạn bè và cơ hội tốt hơn cho tiền đồ.

Khang Ninh (theo D1xz)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 3 con giáp khôn vặt nhất

Chùa Quốc Ân - Cố Đô Huế

Chùa Quốc Ân là một trong những ngôi tổ đình danh tiếng và lâu đời bậc nhất tại cố đô. Đặc biệt chùa vẫn còn bảo lưu được nhiều dấu ấn văn hóa Phật giáo
Chùa Quốc Ân - Cố Đô Huế

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mặc dù không danh tiếng như những quốc tự ở xứ Huế như chùa Thiên Mụ, Thánh Duyên, Diệu Đế, Giác Hoàng… nhưng Chùa Quốc Ân lại là một trong những ngôi tổ đình danh tiếng và lâu đời bậc nhất tại cố đô. Đặc biệt là hiện nay, chùa Quốc Ân vẫn còn bảo lưu được nhiều dấu ấn văn hóa Phật giáo trong các thời kỳ từ Thuận Hóa đến Phú Xuân và Huế ngày nay.

Ban đầu nơi đây chỉ là thảo am nhỏ có tên là thảo am Vĩnh Ân, do tổ sư Tạ Nguyên Thiều khai sơn vào khoảng những năm 1682-1684. Đây là ngôi Tổ đình đầu tiên của phái thiền Lâm Tế từ Trung Quốc truyền sang.

Tổ Sư Nguyên Thiều là người Triều Châu, ông qua Việt Nam hoằng Pháp vào năm 1665 và cho dựng chùa Thập Tháp Di Đà. Khoảng năm 1683-1684, thời chúa Hiền Nguyễn Phước Tần (1648-1687), Ông ra Phú Xuân ở xứ Thuận Hóa dựng chùa Vĩnh Ân (nay là Quốc Ân) tại chân đồi Hòa Thiên phía trái núi Ngự Bình nay thuộc phường Trường An, Huế. Thời ấy, chùa Quốc Ân là một ngôi tổ đình danh tiếng bậc nhất và có vai trò lịch sử rất quan trọng đối với Phật giáo xứ Đàng Trong…

Qua nhiều lần trùng tu nên chùa mang phong cách của nhiều triều đại khác nhau vì thế chùa là một tổng hợp các dấu ấn văn hóa của các thời kỳ.

Qua nhiều lần trùng tu, khuôn viên chùa khá rộng khoảng 5.000m2, trong đó diện tích xây dựng khoảng 550m2. Chùa kiến trúc theo kiểu chữ khẩu truyền thống, tam quan quay hướng Tây Nam gồm 4 trụ. Vào cổng, qua khoảng sân rộng là chính điện.

Bên phải sân có tấm bia kích thước (1.6 x 0.725 x 0.07)m do chúa Nguyễn Phúc Chu ghi bài minh tựa đề “Sắc tứ Hà Trung Tự Hoán Bích Thiền sư tháp ký minh” dựng vào tháng 4 năm Bảo Thái thứ 10 (năm 1730). Cạnh bia là 2 am thờ Thiên Y A Na và am thờ Ngũ Hành.

Gian bên trái thờ Bồ Tát Quan Thế Âm, hai bên là Hộ pháp, phía trước thờ Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ Quan Vân Trường, các tượng khí này đều do Tổ Nguyên Thiều mang đến từ Trung Hoa. Hậu liêu thờ chân dung Tổ Nguyên Thiều và nhiều long vị của chư tổ và chư vị trú trì kế thế…

Đặc biệt, đến này chùa vẫn còn lưu giữ được nhiều tượng khí và pháp khí xưa quý từ thời khai sơn cho đến nay. Đó là bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca được chú tạo vào khoảng năm 1851.

Ngoài ra, chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có hoa văn rất đẹp đúc từ thời Minh Mạng và nhiều pháp bảo, pháp khí khác như đại hồng chung, bia ký…

toàn cảnh chùa
Toàn cảnh của ngôi chùa

Ngôi chùa ngày nay do Hòa thượng Diệu Tánh trụ trì. Ngài đã tổ chức trùng tu chùa thành một ngôi già lam thanh tịnh, trang nghiêm.

Đến tham quan chùa Quốc Ân, ta như bước vào một bảo tàng thu nhỏ trưng bày thờ tự nhiều tượng khí, pháp khí mang nhiều dấu ấn văn hoá của Phật giáo xứ Đàng Trong nói chung và xứ Thuận Hoá nói riêng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Quốc Ân - Cố Đô Huế

Trong khi một số nhà Tây phương muốn để lộ xà ra để tạo phong cách thôn dã thì xà trong kiến trúc sư ở Trung hoa được xem là làm cản trở và có hại cho sự lưu chuyển khí cũng như không tạo may mắn cho chủ nhà vì bộ xà thường tạo ra sức ép cho bên dưới nó như chỗ làm việc, nơi ăn uống, ngủ nghỉ do đó nó ảnh hưởng vào sức khỏe và tư tưởng chủ nhà.
Xà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xà trong phòng ngủ có thể gây ra một số vấn đề tùy theo vị trí của nó. Thí dụ xà trên đầu giường có thể làm cho nhức đầu, đôi khi có cả buồn ôn, và ở vùng bụng có thể bị về bộ máy tiêu hóa, còn xà trên vùng chân thuờng làm trở ngại cho những động lực về di chuyển trong đời sống. Một nhà doanh nghiệp thấy mình ít đi lại hẳn sau khi nằm ngủ trên một cái giường mà phần chân thì ở bên dưới một cái xà.

Xà nằm trên lò sưởi hay khu vực phòng ăn thì chắc chắn làm hao tiền của đặc biệt cho vay sẽ không đòi được.

Xà ở trên chỗ làm việc khiến cho đau yếu, bênh tật

Nếu giường ngủ, bàn làm việc hay lò bếp không dời chỗ được bên dưới xà, thì các chữa là treo hai cái sáo tre, cột trên sáo hai mảnh lụa đỏ để tạo dáng hình bát quái với xà đó và giúp cho khí dễ vận chuyển bên dưới khu đó. Một phương cách khác là viền những dải lụa đỏ chạy dọc theo cái xà đó.

Xà ở một nơi như trong tiền sảnh có thể làm không khí không lưu thông đều cả nhà.

Cách chữa: Thiết trí đèn trần với ánh sáng chan hòa làm thành một trần giả, như thế không những nguồn khí thông suốt mà còn khiến cho khí của chủ nhà mạnh thêm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xà

Mơ thấy nội tạng có đáng sợ không?

Thật không may nếu bạn mơ thấy nội tạng là trái tim hay lá phổi của mình. Những giấc mơ này sẽ khiến cho tinh thần sa sút, bạn cảm thấy chán nản và mất hết hi
Mơ thấy nội tạng có đáng sợ không?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thật không may nếu bạn mơ thấy trái tim hay lá phổi của mình. Những giấc mơ này sẽ khiến cho tinh thần sa sút, bạn cảm thấy chán nản và mất hết hi vọng. 


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Mo thay noi tang co dang so khong hinh anh
Ảnh minh họa

 
Mơ thấy nội tạng là 2 quả cật ám chỉ bạn đang cảm thấy nặng nề và có nhu cầu thanh lọc cơ thể.   Chiêm bao thấy gan là điềm báo bạn nên đi khám bệnh, có thể gan của bạn đang có vấn đề, bạn cũng cần giảm uống rượu. Bên cạnh đó, điều này cũng ám chỉ bạn đang cảm thấy bị coi thường hoặc giận dỗi ai đó.    Lá phổi trong giấc mơ là biểu tượng cho sự sáng suốt, sáng tạo và nguồn cảm hứng. Ngòai ra, chiêm bao thấy phổi cũng ám chỉ bạn đang trong trạng thái căng thẳng vì quan hệ với một số người không được tốt.   Chiêm bao thấy mình bị đau tim có thể dự báo điềm xấu sắp xuất hiện không tốt cho sức khỏe và cuộc sống của bạn. Tuy nhiên, bạn cũng đừng quá lo lắng bởi những khủng hoảng muộn phiền đấy sẽ sớm qua đi mà thôi.   Thấy tĩnh mạch của bạn trong mơ, ám chỉ rằng bạn đang bị nói xấu sau lưng, nhưng không đáng lo vì sẽ có người bảo vệ bạn.  Mơ thấy nội tạng là những tĩch mạch của bạn đang chảy máu, báo trước rằng bạn sẽ trải qua sự phiền muộn lớn khó tránh khỏi.    Chiêm bao thấy túi mật của bạn, ám chỉ rằng bạn cần giải tỏa sự tiêu cực của bản thân. Bạn cần bỏ lại những rắc rối sau lưng và tự thưởng cho mình một khoảng thời gian thư giãn, có thể là “xách ba lô lên và đi” chẳng hạn.    Mơ thấy ruột người của bạn hoặc người khác, tượng trưng cho sự đau đớn khủng khiếp, sự tuyệt vọng và một hi vọng mong manh về hạnh phúc. Mơ thấy ruột của thú hoang hay súc vật, ám chỉ sự thất bại của kẻ thù của bạn. Mơ thấy bạn xé ruột của người khác, ám chỉ rằng những ý nghĩ hung tợn của bạn gia tăng sự thú vị và lợi lộc cho cá nhân bạn.   Mơ thấy nội tạng mà là dạ dày ám chỉ cho sự khởi đầu của những đổi thay mới trong cuộc sống của bạn. Giấc mơ này có thể cho thấy bạn chấp nhận những thay đổi này một cách khó khăn. Nó cũng cho thấy bạn không chịu đựng được lâu hơn một hoàn cảnh cụ thể, một mối quan hệ hay ai đó. Dạ dày thường được xem là trung tâm của cảm xúc.

Tổng hợp
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy nội tạng có đáng sợ không?

Tướng phú quý của bạn gái nằm đâu trên cơ thể? –

Bạn luôn thắc mắc tướng phú quý của bạn gái nằm đâu trên cơ thể? Vòng ba to, lông mày dài... chính là những đặc điểm mang lại cho người sở hữu sự giàu sang, phú quý. Củ thể ra sao chúng ta cùng đọc bài viết sau nhé! Vị trí tướng phú quý Vòng 3 nở đều
Tướng phú quý của bạn gái nằm đâu trên cơ thể? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phú quý của bạn gái nằm đâu trên cơ thể? –

Những phong tục chào đón năm mới trên thế giới

Nhiều phong tục chào đón năm mới giống nhau nhưng cũng có những phong tục rất khác biệt. Sau đây là một vài phong tục chào đón năm mới đặc sắc trên khắp thế giới:

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Úc: Năm mới là vào ngày 1/1 hàng năm. Đây là một ngày lễ của cả nước. Mọi người thường đi dã ngoại và cắm trại trên biển. Vào ngày cuối cùng trong năm, tiệc mừng năm mới thường tổ chức. Đến thời khắc giao thừa, người dân Úc sẽ khuấy động không gian bằng tiếng huýt sáo, lục lạc, còi xe và đổ chuông nhà thờ nhằm chào đón năm mới.



Màn bắn pháo hoa mừng năm mới ở Cầu cảng Sydney

Đan Mạch: Người Đan Mạch tin rằng, trong những ngày đầu tiên của năm, nếu trước cửa nhà có thật nhiều dĩa bể thì đó sẽ là một dấu hiệu tốt cho gia đình. Những chiếc dĩa cũ được để dành trong cả năm để chờ quăng chúng ra trước nhà của bạn bè trong đêm giao thừa. Nếu trước nhà ai đó có càng nhiều dĩa bể, có nghĩa là nhà họ có rất nhiều bạn bè.

Áo: Người dân Áo gọi đêm giao thừa là Sylverterabend, tức Đêm của Thánh Sylvester. Vào ngày này, tiệc rượu ăn mừng thường được tổ chức. Đồ trang trí và rượu sâm panh là phần không thể thiếu của buổi tiệc. Khi thời khắc giao thừa đến, tiếng kèn trumpet sẽ vang lên từ các nhà thờ và lúc này mọi người sẽ hôn nhau mừng năm mới đến.



Pháo hoa mừng năm mới ở Áo

Bỉ: Đêm giao thừa ở Bỉ được gọi là Sint Sylvester Vooranvond hay Đêm Thánh Sylvester. Ở đây, người ta cũng tổ chức tiệc ăn mừng và khi giao thừa, họ sẽ hôn nhau và gửi đến nhau những lời chúc may mắn. Ngày đầu tiên của năm mới được gọi là Nieuwjaarrsdag. Vào ngày này, trẻ em sẽ dùng những mảnh giấy được trang trí đẹp mắt để viết thư gửi cho cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu, sau đó đọc những lá thư này.

Anh Quốc: Anh Quốc cũng có tập tục xông đất cho năm mới. Người Anh tin rằng, sau đêm giao thừa, vị khách nam đầu tiên đến thăm nhà sẽ đem lại may mắn cho gia chủ. Khi đến thăm, người khách này sẽ mang kèm một món quà như tiền, bánh mì hoặc than đá nhằm chúc gia chủ sẽ đủ đầy những món này trong suốt năm. Tuy nhiên, người Anh rất kiêng kỵ những người có tóc vàng hoặc đỏ hoặc là phụ nữ đến xông đất bởi họ tin rằng những người này sẽ mang đến sự xui xẻo. Tại London, người dân thường tập trung quanh quảng trường Trafalgar Square và Piccadilly Circus để chờ đón tiếng chuông ngân từ tháp đồng hồ Big Ben mừng năm mới đến.



Người xông đất mang theo một món quà như tiền, bánh mì hoặc than đá nhằm chúc gia chủ sẽ đủ đầy những món này trong suốt năm

Pháp: Người Pháp gọi năm mới là Jour des Etrennes, tức món quà ngày đầu năm. Để mừng năm mới, mọi người trong gia đình thường tề tựu, tổ chức tiệc mừng và tặng quà cho nhau.

Đức: Chì nung chảy được thả vào nước sẽ tạo thành những hình dạng khác nhau, người ta dựa theo những hình dạng đó để đoán biết tương lai bản thân. Vào đêm giao thừa, khi ăn xong mọi người sẽ chừa lại một ít thức ăn trên đĩa và để đến sau nửa đêm. Đây là một cách cầu chúc cho sự ấm no trong năm mới.



Chừa lại trên dĩa một chút thức ăn như cách cầu chúc cho sự ấm no trong năm mới

Hy Lạp: Ngày 1/1 hàng năm là một ngày rất quan trọng đối với người dân Hy Lạp. Đây là ngày Thánh Basil và cũng là ngày đầu năm mới. Thánh Basil là một vị thánh rất tốt với trẻ em. Người thường xuất hiện vào ban đêm và để lại quà tặng cho trẻ em trong những đôi giày của chúng. Vào ngày Thánh Basil, mọi người quây quần bên nhau, dùng bữa và trao cho nhau những món quà yêu thương.

Hungary: Ở Hungary, người dân thường chào đón năm mới bằng cách đốt hình nộm hay còn gọi là vật tế thần mang tên “Jack Straw”. Hình nộm này tượng trưng cho những điều xấu xa và xui xẻo của năm cũ và việc đốt hình nộm mang ý nghĩa xua tan những điều không may và chào đón may mắn đến trong năm mới.

Ấn Độ: Người Ấn Độ chào đón năm mới bằng lễ hội ánh sáng Diwali. Mọi người sẽ tặng thiệp và quà cho nhau. Đồng thời, họ cũng sẽ cố gắng hoàn thành tất cả mọi việc trước thời điểm giao thừa.



Lễ hội ánh sáng Diwali

Ba Lan: Đêm giao thừa còn được gọi là Đêm của Thánh Sylvester nhằm tưởng nhớ Đức giáo hoàng Sylvester I. Truyền thuyết kể rằng người đã làm thất bại âm mưu phá hủy thế giới của một con rồng hung ác vào năm 1000.

Ecuador: Quốc gia ở Nam Mỹ này có lễ hội Ano Viejo được tổ chức bằng cách tạo ra những hình nộm được trang trí sao cho giống hệt với người thật bằng giấy báo cũ và pháo nổ. Người ta đặt hình nộm ở bên ngoài nhà mình. Họ cho rằng hình nộm đại diện cho những chuyện xảy ra trong năm qua. Tại lúc giao thừa, mỗi gia đình sẽ đốt hình nộm. Pháo, giấy báo cũ sẽ cháy mang theo những điều không vui của năm cũ và đón năm mới về.

Hà Lan: Để mừng năm mới, người Hà Lan thường đốt cây thông Noel trên đường để làm hiệu và đốt pháo hoa.



Người Hà Lan đốt cây thông Noel trên đường để xua đi những xui rủi của năm cũ và chào đón năm mới

Bồ Đào Nha: Vào đêm giao thừa, người Bồ Đào Nha sẽ chọn và ăn 12 trái nho từ một chùm nho khi đồng hồ điểm 12 giờ đêm. 12 trái nho tượng trưng cho 12 tháng hạnh phúc trong năm mới.



12 quả nho tượng trưng cho 12 tháng may mắn

Xứ Wales: Khoảng 3 - 4 giờ sáng ngày đầu năm mới, các bé trai trong làng sẽ cầm theo những nhánh cây thường xanh đi khắp các nhà rắc lên những người mà họ gặp và rắc vào từng phòng của mỗi nhà nhằm đem lại sự may mắn trong năm mới. Vào ngày này, trẻ em đi khắp làng ca hát và sẽ được thưởng tiền và bánh kẹo.

Nga: Grandfather Frost, người mặc bộ đồ xanh khác màu với đồ của ông già Noel, sẽ xuất hiện trong đêm giao thừa với một túi đầy đồ chơi cho trẻ em.



Grandfather Frost

Scotland: Ở Scotland, đêm giao thừa còn được gọi là Đêm của Nến. Để chuẩn bị cho năm mới, mọi người thường dọn dẹp nhà cửa và thanh lọc nhà bằng nghi lễ đốt nhánh cây bách xù và đem xông khắp nhà. Người Scotland cũng có tập tục xông đất đầu năm. Người xông đất là người đầu tiên đặt chân vào trong nhà vào ngày đầu năm. Người này sẽ đem đến điềm may cho gia chủ trong năm mới.

Nam Phi: Năm mới sẽ được chào đón bằng tiếng chuông nhà thờ reo vang và tiếng súng nổ. Vào ngày đầu năm mới, khắp nơi đều tưng bừng không khí lễ hội.

Nam Mỹ: Người dân sẽ đặt trước nhà một con bù nhìn và đốt nó vào lúc giao thừa.

Tây Ban Nha: Tất cả mọi thứ kể cả những tác phẩm kịch nghệ và phim ảnh đều ngừng hoạt động vào đêm giao thừa. Khi đồng hồ điểm 12 giờ đêm, mọi người sẽ ăn 12 trái nho. Mỗi trái nho như là lệ phí để trả cho sự may mắn trong 12 tháng trong năm mới. Đôi lúc, nho còn được nhâm nhi cùng với rượu vang.



Nho và rượu dùng nhâm nhi cho tối giao thừa ở Tây Ban Nha

Mỹ: Người dân chào đón năm mới bằng những bữa ăn và tiệc tùng nhảy múa. Trong thời khắc giao thừa, mọi người sẽ trao nhau nụ hôn và chúc nhau “Năm mới vui vẻ”.

Nhật: Năm mới ở Nhật được gọi là Oshogatsu, đây là dịp để tổ chức các lễ hội tưng bừng và vào thời điểm này các doanh nghiệp đều nghỉ lễ. Người Nhật trang hoàng cửa chính của ngôi nhà bằng những nhành lá thông hoặc tre và các sợi dây. Họ tin rằng những thứ này mang lại cho họ sức khỏe, cuộc sống cao niên và xua đuổi những linh hồn quỷ dữ. Dây thừng là biểu trưng cho niềm hạnh phúc và sự may mắn. Trẻ em được nhận otoshidamas - tiền mừng tuổi trong ngày đầu tiên của năm mới. Người Nhật thường gửi thiệp chúc mừng năm mới cho bạn bè, tổ chức tiệc tất niên để tiễn đưa năm cũ và đón chào năm mới. Vào ngày 31 tháng 12, các quả chuông sẽ rung 108 lần để xua đi 108 điều không may. Khi bước sang năm mới, người Nhật thường nở nụ cười nhằm cầu mong cho thật nhiều may mắn sẽ đến với mình.



Người Nhật treo một sợi dây thừng bằng rơm trước cửa nhà để xua đuổi những linh hồn quỷ dữ

Ngọc Trâm
Theo Y!Voices
Ảnh: Internet



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những phong tục chào đón năm mới trên thế giới

Phi tinh năm Ất Mùi

Trong Phong thủy, mỗi năm, 9 phi tinh tọa lạc trong 9 phương mang ý nghĩa đặc biệt với ngôi nhà và vận trạch của gia chủ.
Phi tinh năm Ất Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Một số cát tinh mang lại vận may và một số khác (hung tinh) lại mang vận rủi vào từng phương vị, ảnh hưởng lớn tới vận cát, hung của gia chủ. Hãy đặc biệt quan tâm vào phòng ngủ, phòng khách, văn phòng, công ty và hướng nhà của bạn nếu 1 trong 4 phương vị này có hung tinh bay tới.
Phi tinh nam At Mui hinh anh
Phi tinh năm Ất Mùi
Theo Lưu niên của 9 ngôi sao (Huyền không phi tinh theo năm). Năm nay sao chủ quản là sao Tam Bích (số 3) sẽ đóng ở trung cung, thời điểm bắt đầu sang năm mới vào lúc 12h09’ ngày 04/02/2015 dương lịch, nhằm ngày 16/12 âm lịch của năm Giáp Ngọ, đây là ngày lập xuân, là ngày đầu năm mới của năm Ất Mùi (Theo tiết khí).

Phi tinh nam At Mui hinh anh 2
Phi tinh năm Ất Mùi
* Chú ý thêm: Nếu em bé nào sinh từ ngày, giờ này trở đi (12h09’ ngày 04/02/2015 dương lịch, nhằm ngày 16/12/Âm lịch của năm Giáp Ngọ) đã bước sang tuổi Ất Mùi, không còn là tuổi Giáp Ngọ nữa, mặc dù đã sinh trong tháng 12 âm lịch của năm Giáp Ngọ, cần phải biết chính xác như vậy để sau này xem về Tử vi, hôn nhân và phong thủy cho em bé khỏi bị nhầm lẫn mà mang họa cho em bé}.

Năm Ất Mùi (2015) 9 ngôi sao sẽ di chuyển đến 8 hướng như sau:

1. Chính Đông – Nhất Bạch (Thủy) – cát tinh chủ về nhân duyên, tài phú.

Nhất Bạch Tham Lang Tinh bay vào Đông phương, Tham Lang là một trong ba sao cát tinh, chủ về Danh Lợi, Thăng Tiến, Văn Quý, Nhân Hòa, Tài Phú, Cảm Tinh cùng Đào Hoa.

Năm nay là Tinh Cung tương sinh (Thủy-Mộc), nếu bố trí hợp lý thì trong nhà có nhiều việc vui vẻ, âm dương chính phối, phụ nữ thường sinh con trai, được cả phú quý, đại lợi tiền tài.

Nếu bố cục không thích đáng, tất dễ phạm vào phong thấp tâm bệnh, vợ chồng trái mắt, huynh muội bất hòa, trung phòng bại lạc, mắt mờ tai điếc.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

– Nên đặt tượng Rồng bằng đồng, Mã thượng phong hầu bằng đồng, hoặc Hồ lô bằng đồng, Lệnh Bài Trấn Trạch Cát tinh cao chiếu bằng đồng, Đèn ngũ hành bằng đồng, hoặc Tỳ Hưu, Kỳ Lân, Long Quy bằng đồng, quả cầu phong thủy bằng Thạch anh màu trắng, Đĩa thất tinh màu trằng, để Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, ngũ hành tương sinh, hoặc bổ sung hành Thủy tại phương vị này như bể cá, quả cầu phong thủy bằng Thạch anh đen, Đĩa thất tinh bằng Thạch anh đen, để Thủy vượng, để tăng cường cát khí, để tăng cơ hội thành công về nghề nghiệp. Hoặc đặt tượng hoa Mẫu đơn và đôi uyên ương màu trắng, để tìm kiếm nửa kia của mình (nếu còn độc thân).

2. Đông Nam – Nhị Hắc (Thổ) – Hung tinh chủ về bệnh tật, đau ốm.

Năm nay Nhị Hắc Bệnh Phù Tinh bay vào Đông Nam phương, sao này chủ bệnh tật đau đớn, da thịt đau nhức xương cốt nhức mỏi, huyết quang, không nên coi thường.

Chỗ Bệnh Phù Tinh đến nên hạn chế động thổ, cũng không nên bày bể cá, chậu cảnh, cây cối và thảm đỏ, nếu không sẽ khiến Bệnh Phù Tinh càng thêm hung hãn mà làm cho thương vong hoặc quan tư.

Năm nay Cung Tinh tương khắc (Mộc-Thổ), nếu bố trí sai, ác phụ khắc phu, trung nam mất sớm, quả phụ đương gia, nhiều bệnh về dạ dày tỳ vị, phu thê tình bạc, phụ tranh phu quyền, dễ bị bệnh dạ dày, không thể không phòng. Nếu bố trí thích đáng tất chủ văn chức, có giàu về địa sản, gia vượng đinh thịnh, con trai cả mạnh khỏe.

Nếu cửa lớn, cửa phòng thuộc hướng Đông Nam, gia chủ dễ bị cảm nhiễm bệnh tật hoặc đột phát sức khỏe suy giảm, thậm chí có mổ xẻ, tài vận suy sụp.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

– Có thể đặt một vật thuộc Kim để hóa giải như Hồ Lô, Đèn ngũ hành bằng đồng, Long Quy, Tỳ Hưu, Thiềm Thừ, Lệnh Bài Trấn Trạch Cát tinh cao chiếu bằng đồng, Lục Đế Tiền (Lục Đế), Phong Linh 6 ống, Mã thượng phong hầu, quả cầu phong thủy Thạch anh trắng, lấy Thổ sinh Kim, lấy Kim sinh Thủy ngũ hành tương sinh, gặp hung hóa cát. Dùng Kim hóa Thổ cũng làm chậm lại ác phá của Nhị Hắc Bệnh Phù.

– Nhưng hiệu quả nhất cho nhà ở, hoặc công ty, văn phòng, cửa hàng kinh doanh, ở hướng Đông-Nam trong năm nay là đặt một cặp Tỳ Hưu. Bố trí một cặp Tỳ Hưu quay đầu ra cửa chính để hóa giải sát khí của sao xấu Nhị Hắc, vừa chiêu tài lộc cho gia đình, văn phòng.

– Nếu có giường ngủ ở hướng Đông-Nam (so với trung tâm ngôi nhà), thì nên treo tiền đồng, hồ lô đồng, đèn ngũ hành đồng.

– Nếu nhà ở, hoặc công ty, hoặc văn phòng, hoặc cửa hàng kinh doanh, hoặc phòng ngủ, có cửa sổ ở hướng Đông - Nam, thì nên treo tiền đồng hoặc phong linh bằng kim loại.

– Nếu có bếp hướng Đông - Nam, thì nên đổi hướng bếp hoặc treo tiền đồng trước bếp.

3. Trung Cung – Tam Bích (Mộc) – Hung tinh chủ về sự tranh chấp, thị phi, hao tốn.

Năm nay Tam Bích Lộc Tồn hung tinh bay đến Trung Cung, đây là một Hung Tinh lớn, chủ về tranh đấu thị phi cãi vã quan sự, tai nạn giao thông, cùng các bệnh về gan mật.

Nếu giường ngủ, phòng sinh hoạt, phòng khách, bàn làm việc, bàn học tập, ở Trung Cung ngôi nhà, năm nay gia chủ có nhiều lúc tính cách nóng nảy, thích gây gổ, dễ tranh cãi, khó mà đạt được cái gọi “Gia Hòa Vạn Sự Hưng”.

Năm nay Tinh Cung tương khắc (Mộc - Thổ), nếu bố trí thỏa đáng, tất có thể được phát về tài sản ruộng đất, con cả phát đinh phát tài. Nếu bố trí sai lầm, nếu có thêm loan đầu ác xạ, gia đình ắt bất hòa, vợ chồng không vui vẻ, hay gặp tranh đấu trong công việc, cấp trên ghét bỏ, hoặc vì tổn thương tỳ vị bỏ ăn, hoặc vì tranh đấu mà què chân gãy tay.

Tóm lại là một năm vất vả, bôn ba, tranh đấu, có nhiều ngáng trở, con cái ăn chơi bại gia, phụ nữ dễ bị bệnh, vợ chồng trái mắt, vợ nói chồng cãi, trong nhà chỉ thích ăn chơi phá tán, có thể bán cả đất cát nhà cửa, có thể xuất kẻ trộm cắp, cướp giật, con gái lớn thì hư hỏng.

Nếu bố trí sai lầm, tất dễ phạm loan đầu ác xạ, gia đình ắt bất hòa, vợ chồng không vui vẻ, hay gặp tranh đấu trong công việc, cấp trên ghét bỏ, hoặc vì tổn thương tỳ vị bỏ ăn, hoặc vì tranh đấu mà què chân gãy tay.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:
– Cấm kỵ đặt các thiết bị phát sinh rung động hoặc tiếng ồn ở phương vị này (ti vi, tủ lạnh, quạt, chuông gió, thác nước, … ). Tránh bày trí các vật kim loại ở đây, sẽ làm Tam Bích hung hãn thêm.

– Năm nay Cung Tinh tương khắc (Mộc - Thổ). Có thể bày ở vị trí này các đồ vật phẩm phong thủy thuộc Hỏa (như thảm màu đỏ, đèn tháp đỏ, quả cầu phong thủy bằng Thạch anh đỏ, hồng, cam, tím, hoặc động Thạch anh tím, hoặc đĩa Thất tinh Thạch anh tím, hoặc đỏ, hồng, cam, hoặc Tỳ Hưu màu đỏ, màu hồng, màu cam, màu tím,) khiến cho Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, ngũ hành thuận sinh thì có thể gặp hung hóa cát.

4. Tây Bắc – Tứ Lục (Mộc) – Cát tinh chủ về học hành, trí thức, học vấn.

Năm nay Tứ Lục Văn Khúc Tinh bay đến phương Tây Bắc, sao này là chủ về Văn Xương học hành, khoa danh, phẩm vị hơn người, và cũng chiêu mời nhân duyên đào hoa vận. Nếu đem bàn học tập kê tại vị trí này thành tích học tập tất có sự tăng tiến.

Nếu ở đây đặt bàn làm việc xử lý giấy tờ, cũng có thể luôn giữ được đầu óc sáng suốt, phúc chí tâm linh, nên công việc thuận lợi.

Sao Văn Khúc này cũng thêm nhân duyên, cho nên cần vận dụng để kết nhân duyên, bài trừ tiểu nhân cũng mời gọi các nhân duyên mong muốn.
Năm nay Cung Tinh tương khắc (Kim - Mộc), nếu bài trí thích đáng gia đình vui vẻ, con cái thuận hòa, dễ sinh quý tử, sự nghiệp, tài vận hanh thông.

Nếu bố trí không thích hợp, vợ chồng trái mắt, nhà có trộm cướp. Ra khỏi nhà là chẳng thấy bao giờ về, hay nhầm lẫn, trên người hay bị phong chứng, hoặc mẩn ngứa chân tay, hoặc có bệnh về gan mật.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

– Tránh bày trí các vật kim loại ở đây.

– Năm nay Cung Tinh tương khắc (Kim - Mộc). Có thể bày ở vị trí này các đồ vật phong thủy thuộc hành Thủy (như phong thủy luân, quả cầu Thạch anh màu đen hoặc màu xanh biển, tháp văn xương màu đen, hoặc đĩa Thất tinh màu đen, hoặc màu xanh biển) khiến cho Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, ngũ hành thuận sinh thì có thể gặp hung hóa cát, thì đối với thi cử, học hành, tình duyên, vận thế thăng chức đều có lợi.

5. Chính Tây – Ngũ Hoàng Đại Sát (Thổ) – Đại hung tinh.

Năm nay Ngũ Hoàng Đại Sát bay vào hướng chính Tây, Ngũ Hoàng là Lưu Niên Quan Sát, hướng này không nên động thổ, nếu không sẽ đem đến điềm ác, chỉ bệnh tật huyết quang, tai họa, thất bại, phá tài, kiện tụng, thị phi.

Hướng này năm nay cũng không được bày bể cá, thảm đỏ, thậm chí bày cây cối chậu cảnh cũng là hung không cát.

Do đây là sao hung hãn nhất không nên gây động tại cung vị này, phải để tĩnh, vì động sẽ làm gia tăng tính hung của nó do đó sẽ không lường trước được hậu quả. Tốt nhất là không đặt tivi hay phòng sinh hoạt chung tại cung này trong năm nay.

Năm nay Tinh Cung tương sinh, nhưng là sinh xuất, nên tác hại của sao Ngũ Hoàng cũng giảm bớt, nhưng năm nay lại thêm Tam Sát cũng ở hướng Tây. Nếu gặp phải Tam sát, người nhà mắc nhiều bệnh, gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ, đã hung lại càng thêm hung, nên có cách hóa giải thích đáng.

Nếu bố trí thích đáng, chỉ có văn tài thực vật, sự nghiệp thuận lợi. Nếu bố trí không phù hợp thì bệnh tật huyết quang, tai họa, thất bại, phá tài, kiện tụng, thị phi.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:
– Tránh sử dụng các vật dụng màu đỏ, hoặc tạo ra lửa ở đây.

– Ở tại hướng này của ngôi nhà, của văn phòng, phòng ngủ, phòng khách, nên treo các vật phẩm phong thủy bằng kim loại như Ngũ Đế tiền, Lục Đế Tiền, Long Quy, Kỳ Lân, Tỳ Hưu, chuông gió bằng kim loại 6 ống, Hồ lô đồng, Lệnh Bài Trấn Trạch Cát tinh cao chiếu bằng đồng, Đèn ngũ hành bằng đồng, Mã thượng phong hầu bằng đồng v.v…

– Nhưng hiệu quả nhất cho nhà ở, hoặc công ty, văn phòng, cửa hàng kinh doanh, ở hướngTây trong năm nay là đặt một cặp Tỳ Hưu, bố trí một cặp Tỳ Hưu quay đầu ra cửa chính để hóa giải sát khí của sao xấu Ngũ Hoàng Đại Sát, vừa chiêu tài lộc cho gia đạo.

– Nếu có giường ngủ ở hướng Tây (so với trung tâm ngôi nhà), thì nên treo tiền đồng, hồ lô đồng, đèn ngũ hành đồng.

– Nếu nhà ở, hoặc công ty, văn phòng, cửa hàng kinh doanh, phòng ngủ, có cửa sổ ở hướng Tây, thì nên treo tiền đồng hoặc phong linh bằng kim loại.

– Nếu có bếp hướng Tây, thì nên đổi hướng bếp hoặc treo tiền đồng trước bếp.

6. Đông Bắc – Lục Bạch (Kim) – Cát tinh chủ sự thăng tiến về tài vận, quan lộc.

Năm nay Lục Bạch Vũ Khúc bay vào Đông Bắc phương, đây là một trong Tam Bạch Cát Tinh, nên hướng Đông Bắc năm nay dùng để vinh thăng, chiêu quý nhân, mưu tính tất thành.

Lục Bạch Kim Tinh cũng chủ về Dịch mã, chủ quản việc đi xa, phó nhậm, di chuyển, thậm chí là thuyên chuyển công việc.

Phương vị này năm nay tuyệt đối không được bày các các đồ có màu đỏ, màu hồng, cũng không được bày các cây cảnh cỡ lớn, nếu không tất có tổn thương chân tay, phá tài cùng với phá hoại sự giúp đỡ của quý nhân, nói chung sẽ làm giảm đi sự may mắn của vận trình.

Năm nay Cung Tinh tương sinh (Thổ - Kim) là có lợi, chỉ cần sắp đặt thích đáng, tất được tiền tài, tài vận quan vận đều tốt, con cái hiếu thuận, mưu cầu đều thỏa ý.

Nếu bố cục sai, tất có tiểu nhân phá đám, mất quan mất nghế, đau đầu nát óc. Chủ nhà nhiều bệnh, lắm tai, chủ yếu là bệnh về đầu, thần kinh thất thường, trúng độc tự sát.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

– Tại đây, Cung Tinh tương sinh, đại lợi, có thể tại phòng làm việc, chỗ kinh doanh bố trí các vật phẩm Chiêu Tài thuộc Kim hoặc Thổ khiến thổ sinh cho Kim, Kim sinh cho Thủy, mà Thủy chính là chủ quản Tài lộc.

– Nên treo hoặc đặt các vật phẩm phong thủy bằng kim loại hoặc bằng đá, hoặc bằng bột đá như Đèn ngũ hành bằng đồng, Lệnh Bài Trấn Trạch Cát tinh cao chiếu bằng đồng, Lục Đế Tiền, Long Quy bằng đồng hoặc bằng đá, hoặc bằng bột đá, Tỳ Hưu bằng đồng hoặc bằng đá, hoặc bằng bột đá, chuông gió bằng kim loại 6 ống, Hồ lô đồng hoặc bằng đá hoặc bằng bột đá, Mã thượng phong hầu bằng đồng hoặc bằng đá hoặc bằng bột đá tại cung này nếu cung này là cửa chính, cửa cổng hay cửa sổ.

– Đặt quả cầu Thạch anh màu trắng hoặc màu vàng. Hoặc động Thạch anh trắng, hoặc vàng, để thu hút tài vận.

7. Chính Nam – Thất Xích (Kim) – Hung tinh chủ về sự hao tán tài sản, công danh.

Năm nay Thất Xích Phá Quân Kim bay vào hướng chính Nam, đây là sao quản về Thiên Tài trong vận 8, là một sao chủ quản về tiền tài phi chính thức.

Sao này cũng chủ về nghệ thuật, đối với âm nhạc và các bộ môn giải trí đều có lợi.

Duy bởi Thất Xích Phá Quân là loại cát hung không định, nên sinh không nên khắc, nếu như trong nhà bố cục không đúng hoặc vận dụng sai, tất sẽ có sự trở ngại công việc, vì bạn bè liên đới mà tổn tài phá thân, hoặc có nạn phải mổ sẻ, xướng dâm, giặc trộm, quan tư…

Năm nay Cung Tinh tương khắc, nếu bố cục thích đáng, tất văn võ song toàn, quan lộc song thu, đại quyền vào tay, tài vận cũng tốt.

Nếu bố trí không đúng, tất giao kiếm động sát, gia đình không hòa, e có tổn thương dao kiếm, họa về xe ngựa. Với thân thể, có bệnh về miệng, đau đầu hoặc mưng mủ bầm dập, trong nhà có giặc cướp trộm đọa, hoặc bởi tranh cãi mà gặp quan phi.

* Phương pháp vận dụng hóa giải:

– Tránh đặt các thiết bị phát sinh tiếng ồn ở phương vị này.

– Hướng này có Thổ ngộ Kim ắt chủ giàu có, vận dụng tốt tài phú miên miên, có thể tại phương này bố trí các vật phẩm phong thủy thuộc kim (Như Tỳ Hưu, Kim Thiềm Thừ, Long Quy, Mã thượng phong hầu, Đèn ngũ hành bằng đồng, Lệnh Bài Trấn Trạch Cát tinh cao chiếu bằng đồng, quả cầu Thạch anh màu trắng) có thể trấn trạch nạp phúc, hoạch tài, đề cao tài vận.

8. Chính Bắc – Bát Bạch (Thổ) – Cát tinh chủ về sự thăng tiến về tài lộc, quan chức.

Bát Bạch Tinh đến hướng chính Bắc, đây là một trong Tam Cát Tinh, là đương vượng tài tinh của vận 8, trừ chủ về tài vận ra còn có cát khánh, đạt sự nghiệp, mở nghiệp cùng hôn nhân giá thú…

Nếu cửa nhà hoặc cửa phòng ở vào vị trí này tất là gia trạch hưng vượng, tài vận hanh thong, những người đang yêu có thể thành hôn.

Nếu gia trạch tọa hướng đương vận cát lại thêm cát, hỷ sự trùng trùng. Nếu không phối hợp tất yếu cần chú ý da dẻ, hô hấp, ruột rà hoặc thần kinh tọa bị đau đớn, cũng có thể bị tổn thương chân tay.

Năm nay Tinh Cung tương khắc (Thổ - Thủy). Nếu phối hợp tốt, tất chủ văn chức võ quyền, liên tục thăng quan thần tài trợ giúp, tài lộc đều vượng, vợ chồng vui vẻ, con cái mạnh khỏe.

Nếu bố trí không thích đáng, dễ tổn tiền tài, miệng có dị tật, con trai con gái đều dễ sinh bệnh, vợ chồng sinh oán cừu.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

– Có thể bố trí ở phương vị này trong nhà hay văn phòng các vật phẩm phong thủy thuộc Kim, như Tỳ Hưu, Thiềm Thừ, Hồ lô, Kỳ Lân bằng đồng, Đèn ngũ hành bằng đồng, Mã thượng phong hầu bằng đồng, Lệnh Bài Trấn Trạch Cát tinh cao chiếu bằng đồng, hoặc đặt quả cầu phong thủy bằng Thạch anh màu trắng, hoặc Đĩa thất tinh màu trắng, khiến cho Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy ngũ hành thuận sinh sẽ khiến sự nghiệp phát triển, có thể đem lại tài phú, làm cho quan hệ, thăng tiến cũng tốt thêm.

9. Tây Nam – Cửu Tử (Hỏa) – Cát tinh về chủ nhân duyên, tử tức.

Năm nay Cửu Tử bay vào hướng Tây Nam, là vị trí Hỷ Khánh, chủ thêm tiền, tài hỷ, cát khánh, đào hoa, thăng chức…

Vị trí này thích hợp để mở cửa, đặt các thứ đồ động, kê giường, bàn làm việc… tất có cát khánh hỷ khí giáng lâm nhanh chóng, chủ giàu có về nhà đất, thăng quan nhậm chức, khiến cho sự nghiệp cùng cá nhân phát triển mọi mặt, thành tích của bạn được công nhận và khen thưởng, phú kham địch quốc, đứng đầu chỗ làm, hỷ sự trùng phùng.

Vị trí này cũng là chỗ quản về vận thế tình cảm cá nhân, hôn nhân yêu đương cũng có tác dụng rõ ràng.

Năm nay Tinh cung tương sinh, nếu Cửu Tử là cửa ra vào hoặc cửa phòng, thì sự ứng nghiệm càng nhanh.Song nếu bố trí không tốt, tất hỏa đàm thổ táo, phụ sinh ngũ tử, sinh bệnh mắt mũi, nóng bụng đi ra máu, dạ dày, đường ruột, huyết áp, lại có hỏa tai, song Cửu Tử hỏa tinh cũng chủ về các bệnh đờm ho, bệnh về mắt.

Cung vị này năm nay phạm Thái Tuế nên tránh động thổ.

* Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

– Năm nay Tinh Cung tương sinh, có thể bày thảm đỏ vật dụng màu đỏ, quả cầu phong thủy bằng Thạch anh đỏ, hồng, cam, tím, hoặc động Thạch anh tím, hoặc đĩa Thất tinh Thạch anh tím, hoặc đỏ, hồng, cam, hoặc Tỳ Hưu màu đỏ, màu hồng, màu cam, màu tím, hoặc đèn sáng lấp lánh, rực rỡ, đại vượng quý nhân đinh tài, thêm tiền lại phát tài. Đặc biệt năm nay những ai muốn cầu con và nhân duyên, thì nên kích hoạt phương này. 

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phi tinh năm Ất Mùi

Bài trí khu vườn cho tình yêu nhanh gõ cửa

Góc Tây Nam khu vườn có tác dụng thúc đẩy tình duyên nếu được bố trí hợp lý.
Bài trí khu vườn cho tình yêu nhanh gõ cửa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy vườn là phần rất quan trọng, cung cấp và kích hoạt năng lượng cho ngôi nhà. Góc Tây Nam khu vườn cũng có tác dụng thúc đẩy tình duyên nếu được bố trí hợp lý.

Bai tri khu vuon cho tinh yeu nhanh go cua hinh anh
Treo đèn ở phía Tây Nam khu vườn thúc đẩy năng lượng tình yêu

Góc Tây Nam vườn thuộc Đại Thổ, hãy tạo một ngọn giả sơn nhỏ bằng cách xếp chồng đá lên nhau, cao trên một mét. Sau đó sơn màu vàng nhạt.
 
Nếu không thích hoặc không có điều kiện tạo hòn giả sơn thì có thể treo một bức tranh hoặc tạo một bức phù điêu có cảnh núi non hùng vĩ ở vị trí ấy. Lưu ý, trong tranh không nên có sông, suối hay nước bởi Thổ khắc Thủy sẽ không tốt cho đường tình duyên của gia chủ.
 
Đèn mang nguồn năng lượng dương ấm áp, may mắn, tỏa sáng và sưởi ấm cho khu vườn. Để kích thích năng lượng tình yêu, nên đặt một ngọn đèn cao ở góc Tây Nam, cột đèn cao ít nhất 1,5 đến 1,8 mét so với mặt đất. Chân cột sâu 1 mét. Ở trên cùng là bóng đèn tròn màu vàng, giống như hình quả cầu để kích hoạt năng lượng Thổ.
 
Một cách khác hiệu quả không kém là treo đèn lồng ở vị trí đó. Theo quan niệm, đèn lồng mang tới may mắn và tốt lành cho cuộc sống hôn nhân, đặc biệt là đèn lồng đỏ - màu sắc thuộc hành Hỏa bởi Hỏa sinh Thổ. Treo một dãy đèn lồng đỏ kích cỡ vừa phải ở phía Tây Nam khu vườn vừa đẹp mắt vừa có lợi.
 
Nếu vườn nhà rộng rãi và có thời gian chăm sóc thì ở vị trí này có thể nuôi một đôi chim để tăng may mắn trong tình yêu. Đôi chim một trống một mái mang đến âm thanh sinh động cho khu vườn, đồng thời là biểu tượng của lứa đôi hòa hợp. Loài chim thích hợp nhất là vẹt xanh, là loài chung thủy, trống mái ăn ý, tình cảm.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bài trí khu vườn cho tình yêu nhanh gõ cửa

5 cách giúp bạn vượt qua nỗi buồn trong cuộc sống

5 cánh vượt qua nỗi buồn là những phương thưc hữu hiệu để bạn áp dụng mỗi khi gặp những trở ngại, khổ đau và những điều không vui trong cuộc sống.
5 cách giúp bạn vượt qua nỗi buồn trong cuộc sống

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuộc sống của chúng ta có quá nhiều khó khăn, những nỗi buồn…? Bạn làm gì để cân bằng cuộc sống của mình, vượt qua tất cả ? Sau đây là những chia sẻ những cách vượt qua nỗi buồn trong cuộc sống :

Thứ 1:

Những lúc gặp chuyện buồn bạn đừng nên quá bi quan, nếu bạn muốn khóc thì hãy khóc cho xong đi. Khóc xong rồi bạn sẽ thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn. Khóc xong rồi bạn hãy đi ngủ một giấc. Khi tỉnh lại bạn sẽ cảm thấy trong lòng mình nhẹ nhàng hơn, mặc dù là lúc này bạn có mệt mỏi, nhưng dù sao thì vẫn tốt hơn là lúc đầu. ngủ dậy cơ thể lại trở về trạng thái tự vệ. Đây là cách giúp bạn cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn, dễ dàng vượt qua nỗi buồn trong cuộc sống.

Thứ 2:

Tiếp sau đó khi bạn đã bình tĩnh lại rồi thì hãy suy nghĩ cho thật kĩ, mình nên làm như thế nào, hãy tự hỏi bản thân mình làm như thế nào thì tốt, làm thế nào là đúng. Bạn hãy vạch ra từng bước trong kế hoạc của mình, từng bước một sẽ làm như thế nào. Bạn sẽ cảm thấy mình có định hướng rõ ràng hơn cho những công việc và dự định sắp tới cho tương lai cũng là một trong các cách vượt qua nỗi buồn hiệu quả.

Thứ 3:

Bạn có thể trò chuyện tâm sự vói những người thân, những người hiểu và quan tâm đến bạn, hay là những người mà bạn thích nghe những lời an ủi, động viên, lời khuyên của họ. Và có thể là cả những lời nói không dễ nghe cho lắm nhưng bạn hãy lắng nghe, vì điều đó tốt cho bạn, cuộc sống không hề dễ dàng, và đơn giảm mà. Bạn cần có một hàng trang vững vàng để có thể đi tiếp con đường mà bạn đã chọn.

Thứ 4:

Hãy nghĩ về những điều tốt đẹp sẽ đến, nghĩ về người thân, gia đình thân yêu của bạn những người luôn chờ bạn đợi bạn, mong bạn thành công và sống tốt. Hãy nghĩ về những người mà yêu nhất sẽ giúp bạn có thêm động lực. Mọi người thân của bạn sẽ rất buồn khi bạn sống không tốt đó!

Thứ 5:

Hãy lấy lại tinh thần nhé, bạn hãy vui vẻ lên, hãy tự hát một bài, làm một món ăn mà bạn thích, hay nghe những bài hát mà bạn thường nghe, nói chuyện vui vẻ vói những người bạn yêu. Bạn sẽ thấy cuộc sống này vẫn còn có những điều ý nghĩa, và sẽ có rất nhiều niềm vui đang chờ bạn nếu như bạn nỗ lực và cố gắng hết mình.

Những điều tốt đẹp không tự nhiên mà đến, bạn hãy sống nỗ lực hết mình rồi bạn sẽ tìm thấy những niềm vui thật sự, những điều thú vị và ý nghĩa mà cuộc sống này đang chờ bạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 cách giúp bạn vượt qua nỗi buồn trong cuộc sống

Sinh tháng mấy dễ gặp vận xui tình cảm trong năm 2015

Nếu bạn sinh vào tháng 3, 6, 9, 12 âm lịch thì nên cẩn thận chuyện tình cảm trong năm nay nhé.
Sinh tháng mấy dễ gặp vận xui tình cảm trong năm 2015

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sinh vào tháng 3 âm lịch

Trong năm 2015, những người sinh vào tháng 3 âm lịch sẽ chịu nhiều điều không may mắn về tình cảm. Tình yêu không được như ý, dễ có kẻ thứ 3 chen ngang khiến tình cảm đôi bên nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp không ngừng. Tình cảm có khả năng rạn nứt, nghiêm trọng hơn là dẫn đến chia tay.

Sinh vào tháng 6 âm lịch

Trong năm 2015, tình yêu của những người sinh vào tháng 6 âm lịch sẽ gặp nhiều trắc trở, tình cảm giữa anh chị em trong gia đình sẽ gặp nhiều mâu thuẫn, nếu có thể nhịn, họ tốt nhất nên nhẫn nhịn.

51068506-9456-1422349553.jpg

Sinh vào tháng 9 âm lịch

Người sinh vào tháng 9 âm lịch, trong năm 2015, dù đang độc thân hay có tình yêu cũng đều không mấy suôn sẻ. Những người độc thân trong năm nay có thể tìm thấy những đối tượng vừa ý nhưng sẽ gặp sự phản đối gay gắt từ phía gia đình, chuyện tình cảm không thuận lợi. Những người đang yêu sẽ nảy sinh mâu thuẫn với người thân trong gia đình khiến chuyện tình cảm bị ảnh hưởng.

Sinh vào tháng 12 âm lịch

Trong năm 2015, những người sinh vào tháng 12 âm lịch sẽ gặp nhiều trắc trở trong tình cảm. Nửa kia có làm gì cũng khiến họ cảm thấy không thuận mắt, hở chút là chỉ trích đối phương, tình yêu lại càng khó bảo toàn.

Chocopie (theo Sina)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sinh tháng mấy dễ gặp vận xui tình cảm trong năm 2015

Ý nghĩa sao Phượng Các - Chủ công danh vinh hiển

Phượng Các ở Mệnh thì nhan sắc rất đẹp, da mặt hồng hào, thanh tú, nhất là đối với phụ nữ. Phượng Các là sao tương đối vẹn toàn về nhiều mặt nhan sắc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Phượng Các - Chủ công danh vinh hiển

Ý nghĩa sao Phượng Các - Chủ công danh vinh hiển

Hành: Thổ

Loại: Đài Các tinh

Đặc Tính: Công danh, vinh hiển lâu dài

Tên gọi tắt thường gặp: Phượng

Là một phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Long Trì và Phượng Các. Gọi tắt là bộ sao Long Phượng. Một trong 4 sao của bộ Tứ Linh là Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái. Gọi tắt là Long Phượng Hổ Cái.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Mệnh:

Tướng Mạo: Phượng Các ở Mệnh thì nhan sắc rất đẹp, da mặt hồng hào, thanh tú, nhất là đối với phụ nữ.

Tính Tình: Thông minh, có chất văn.

Ôn hòa, nhân hậu, điềm đạm, cởi mở.

Đoan trang trong nết hạnh.

Công Danh Tài Lộc:

Thi đỗ cao, có khoa giáp lớn, nhất là ở Mão Dậu.

Làm tăng thêm tài lộc, điền sản (Long Trì chỉ nhà cửa, ao hồ).

May mắn trong hôn nhân (dễ yêu, dễ cưới, vợ chồng tương đắc).

May mắn cả trong việc sinh nở (dễ sanh, sinh dễ nuôi).

Với các nghĩa trên, Sao Phượng Các là sao tương đối vẹn toàn về nhiều mặt nhan sắc, tính hạnh, tài lộc, gia đạo.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Và Các Sao Khác:

Sao Phượng Các, Thai Phụ: Thăng quan, thi đỗ.

Phượng Các, Riêu, Hỷ hay Phi: Đắc thời, có hỷ sự đến nhanh chóng về tình duyên, thi cử, quan lộ.

Sao Phượng Các, Thiên Lương: Nữ mệnh có chồng danh giá, hiền.

Phượng Các, Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu: Đây là bộ sao "hiền thần", chuyên phò tá cho Tử Phủ. Cách này giúp đắc quan mau lẹ, cao quý.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Phụ Mẫu:

Cha mẹ danh giá hoặc có điền sản.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Phúc Đức:

Phú quý.

Dòng họ khá giả.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Điền Trạch:

Phượng Các, Mộ: Có nhà đất rộng rãi, có di sản.

Sao Phượng Các, Thai, Bát Tọa: Có nhà lầu cao sang, nhà có ao hồ.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Quan Lộc:

Gia tăng sự thuận lợi về việc cầu công danh, chức vụ, thi cử, bằng khen.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Nô Bộc:

Bè bạn là người có danh chức, đắc lực.

Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Thiên Di:

Ra ngoài hay gặp quý nhân, được người mến chuộng.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Tật Ách:

Chủ đau bệnh về lỗ tai, thận.

Sao Phượng Các nếu gặp với các sao Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, nếu không thì đời hay bị vu oan, giá họa, nói xấu, dèm pha, oán trách, nhà cửa hay bị mối mọt, đồ đạc mau hư, tầm thường.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Tài Bạch:

Gia tăng sự tốt đẹp về mưu cầu tài lộc, tiền bạc hoặc được thừa hưởng di sản, địa ốc, tiền trợ cấp, tiền hưu bổng và chính mình cũng chu cấp cho người khác, làm việc từ thiện.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Tử Tức:

Dễ sinh con, sinh con đẹp, dễ nuôi.

Sinh quý tử, thông minh, tuấn dật.

Ý Nghĩa sao Phượng Các Ở Cung Phu Thê:

Vợ chồng đẹp đôi, tương đắc, việc cưới xin dễ dàng.

Sao Phượng Các Khi Vào Các Hạn

Phượng Các, Riêu, Hỷ: Có dạm hỏi, đưa đến hôn nhân.

Sao Phượng Các, Cáo, Ấn: Thi đỗ.

Phượng Các , Thiên Mã: Có dời nhà cửa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Phượng Các - Chủ công danh vinh hiển

Phép đoán tiểu hạn trên lá số xét gốc Đại hạn và các sao lưu niên

Một kinh nghiệm về giải đoán tiểu hạn trên lá số của tác giả Phong Nguyên. Bài viết rất đáng tham khảo!
Phép đoán tiểu hạn trên lá số xét gốc Đại hạn và các sao lưu niên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của Phong Nguyên

Ai mới học tử vi cũng có một thắc mắc chung là tiểu hạn cứ 12 năm lại trùng với nhau nghĩa là trở lại cung cũ, như thế làm sao có thể tìm ra được những dị biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau, đành rằng ai cũng biết là phải căn cứ vào gốc đại hạn và các sao lưu động cùng một vài yếu tố thay đổi từng năm, nhưng phải phối hợp cách nào để tìm ra được những yếu tố khác nhau mới là khó khăn, rắc rối. Vì vậy, trong bài hôm nay, tôi thử đưa ra một số nhận xét để giúp quý bạn có một khái niệm về việc luận đoán tiểu hạn mà theo tôi là phần khó khăn nhất, và trước đây tôi đã đề cập tới một cách khái quát rồi.

Gốc đại hạn

Yếu tố làm cho các tiểu hạn trung nhau thành ra khác biệt nhiều là do gốc đại hạn thay đổi, vì khi đoán tiểu hạn điều tiên quyết là phải xét đến đại hạn lúc đó được coi như là một cung Mệnh thứ hai di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn, nhưng ta vẫn không thể quên lãng cung Mệnh khi giải đoán. Để cho được linh động và bớt khô khan tôi tránh việc nêu ra các nguyên tắc và chỉ nêu ra dưới đây nhiều thí dụ điển hình:

- Nếu đại hạn có Liêm Tham hãm địa (tại Tỵ, Hợi) mà tiểu hạn có Địa không, Địa kiếp, Thiên không thì sự nghiệm hoạnh phát, nhất là khi được Địa không, Địa kiếp đắc địa (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) chỉ vì Liêm Tham hãm địa rất cần gặp Không (chính trong cuốn Tử vi đẩu số Tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng có nêu ra điểm này khi bàn đến bộ Sát Phá Liêm Tham hãm tại cung Quan lộc mà quý bạn vô tình không biết áp dụng cho cả đại tiểu hạn). Cũng trong trường hợp tiểu hạn trên, nếu gặp Đại hạn có Thiên Phủ hoặc Tử vi thì thực đáng buồn chỉ chờ ngày khuynh gia bại sản hoặc mất chức…nhất là khi có thêm Tuần, Triệt án ngữ (là yếu tố làm lợi thêm cho Liêm Tham hãm), vì Tử Phủ sợ nhất gặp Không Vong và Tuần, Triệt. Ngoài ra, ta vẫn phải xét đến Mệnh nữa, vì khi đại tiểu hạn tương hợp với nhau rồi nếu được thêm Mệnh hỗ trợ thêm mới đáng gọi là hanh thông thuận lợi, còn ngược lại vẫn giảm đi nhiều. Tỷ dụ như Mệnh có Vũ Sát tại Mão mà gặp được đại hạn Liêm Tham hãm và tiểu hạn Không Kiếp, Thiên không như trên thì còn gì hay bằng vì tất cả nhóm sao đó tương trợ lẫn nhau chặt chẽ. Còn trường hợp Mệnh có Thiên Phủ (tức là Mệnh ở Dậu) với đại tiểu hạn như trên thì chưa thể hanh thông được hoặc nếu có phát lên mạnh thì đương số cũng đau khổ, bực dọc trong tâm hồn vì nằm trong môi trường trái ngược với tư thế của mình, không khác gì một ông quan tòa mà phải đứng đầu một đảng cướp hoặc một nhóm buôn lậu quốc tế, như thế càng thành công càng thấy lương tâm cắn rứt, mặc dầu bề ngoài thật là thịnh vượng và có uy tín.

Khi Đại hạn có Nhật Nguyệt miếu vượng tại Mão và Hợi mà gặp tiểu hạn có Thiên Không, Thiên Hư và cung nhập hạn lại vô chính diệu thời tiền tài và công danh rất ngon lành, vì Nhật Nguyệt rất ưa cung vô chính diệu để rọi chiếu vào cho sáng sủa nhất là có thêm Thiên Không quét sạch mây mù và có Thiên Hư làm cho bầu trời thăm thẳm thực là đẹp biết bao! Ngay cả khi có Tuần, Triệt án ngữ cũng vẫn hanh thông vì Nhật Nguyệt khi chiếu gián tiếp (tức là ở đại hạn ảnh hưởng cho tiểu hạn) không hề sợ Tuần, Triệt mà có khi còn nhờ hai sao nầy làm tăng sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu nhập tiểu hạn nữa. Ngoài ra, dù có thêm Không, Kiếp (bất luận miếu vượng hay hãm) nhập hạn cũng phát đạt như thường vì Không Kiếp không hại gì cho Nhật, Nguyệt. Nhưng với tiểu hạn như trên, nếu đại hạn gặp Thiên Phủ hội Song Lộc thì kết quả ngược hẳn lại, không lụn bại thì cũng không làm sao phát đạt nổi. Gặp trường hợp như thế nhiều người mới học tử vi hẳn phải thắc mắc không hiểu tại sao tiểu hạn trước mình phát mạnh mẽ mà tiểu hạn sau cũng vào cung đó lại xuống đến đất đen, nhất là cứ yên trí đại hạn có Thiên Phủ hội Song Lộc thì tiền để đâu cho hết…Bây giờ ta lại phải xét đến Mệnh xem có gì mâu thuẫn hoặc thuận lợi cho đại tiểu hạn hay không: nếu trường hợp đầu (tức là đại hạn Nhật Nguyệt và tiểu hạn Thiên không, Thiên Hưu và cung nhập hạn vô chính diệu) mà được cung Mệnh cũng vô chính diệu hoặc có Phá quân cư Thân) thì năm đó rất thuận lợi, vì Phá quân rơi vào hạn có những sao trên không có gì trái ngược, cũng ví như một người liều lĩnh, thủ đoạn dữ dằn gặp được môi trường làm ăn bất chính (như buôn lậu) thì dễ thành công rực rỡ. Nếu Mệnh có Cơ, Lương hoặc Tử, Phủ thì tuy hợp với Đại hạn Nhật, Nguyệt nhưng lại kỵ tiểu hạn Không Vong, Không Kiếp, Tuần, Triệt cho nên năm đó cũng khó thành công.

- Nếu đại hạn có Xương, Khúc, Khôi Việt, Quan Phúc, Hóa Khoa, mà tiểu hạn lại gặp Hỏa Linh, Không Kiếp, Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Kình, Đà là ta đã thấy ngay sự mâu thuẫn, trái ngược giữa hai nhóm sao đó vì một bên toàn là sao chủ về văn học, tư cách thông minh, một bên chủ về dữ dằn, phá hoại, ngăn trở, lao động về chân tay, như thế làm sao có thể hanh thông được. Riêng trường hợp này, rất cần phối hợp với Mệnh. Nếu Mệnh có Liêm Tham hãm địa hoặc có Vũ Sát hay Cơ Lương (nhưng 2 cặp sao sau không thuận lợi bằng Liêm Tham vì chúng rất sợ Tuần Triệt) thì năm đó không đáng ngại, cũng ví như người thợ máy tới lúc được bổ túc thêm phần kỹ thuật của mình (tỷ dụ như học thêm một khóa chuyên môn nào đó).

Còn trường hợp Mệnh có Thiên Tướng, Thiên Lương…thì tuy rất hợp với đại hạn đó nhưng tiểu hạn hoàn toàn bất lợi, nếu có đi thi tất rớt, có mưu cầu chức phận gì cũng bị cản trở. Do đó, nếu Mệnh và tiểu hạn tương hợp với nhau rồi phải có Đại hạn làm trung gian kết hợp mới tốt đẹp, cũng ví như người mai mối giữa hai họ nhà trai và nhà gái nếu thân thiết với cả hai bên thì người đó sẽ cố tác thành cho cặp trai gái, còn trường hợp không ưa một bên nào là thế nào cũng gây mâu thuẫn. Xem như vậy quý bạn thấy đoán tiểu hạn quả thực rất uyển chuyển vì phải kết hợp quá nhiều yếu tố.

Qua những thí dụ nêu trên, quý bạn hẳn đã có một khái niệm về sự khác biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau (cùng một cung). Đây mới chỉ căn cứ vào gốc đại hạn chứ chưa xét tới những yếu tố thay đổi khác, mà tôi xin nêu ra dưới đây:

Các sao Lưu niên (hoặc Phi tinh)

Nếu muốn giải đoán tinh vi về tiểu hạn hơn, ta cần căn cứ vào các sao lưu niên mà một số nhà tử vi quen gọi là phi tinh là các sao không thể an sẵn trên lá số nhưng cứ mỗi năm ta cần ghi thêm bằng bút chì trên lá số nếu muốn đoán kỹ lưỡng thêm, để biết những điểm dị biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau. Các phi tinh thông thường là Lộc tồn, Kình Đà, Thái tuế, Thiên Mã, Khốc Hư, Tang Hổ, Khôi Việt mà cách an có ghi trong nhiều sách tử vi nên tôi không nêu ra đây nữa. Nhiều nhà tử vi khi an Lưu Thái Tuế hoặc Lưu Lộc Tồn thường an luôn cả các sao khác thuộc chùm đó, nhưng theo tôi nghĩ thì chỉ cần xét đến các phi tinh nêu trên, cũng đủ vì những sao còn lại không giúp được nhiều cho việc giải đoán mà còn có khi làm ta phân vân không biết đi tới kết luận nào. Ngoài ra, trong các phi tinh kể trên, Lưu Thái Tuế cần được chú trong nhiều nhất vì nó luôn luôn tọa thủ tại cung của năm nhập hạn (tức là địa bàn, còn lưu tiểu hạn là thiên bàn).

Tôi lại cũng xin nêu ra nhiều thí dụ điển hình dưới đây chứ không thể nêu ra nguyên tắc giải đoán được:

- Khi đại hạn có Cự môn hãm địa hội Phục binh, Tuế phá, tiểu hạn lại có Cô Quả, Tang Hổ, Kình Đà, Hỏa Linh, Thái tuế mà Lưu Thái tuế lại gặp Thiên Hình, Hóa Kỵ, Kình hoặc Đà lưu niên (nhất là Kình hãm địa) thời ta có thể quyết đoán là đương số bị tù tội hoặc bị đánh đập khá nặng, nếu không cũng phải đau yếu nguy nạn. Nếu lưu Thái tuế không gặp Kình hoặc Đà, tức là Lưu Lộc tồn chạy sang cung khác, thì bao nhiêu sự nguy nan cũng chỉ còn một phút. Do đó quý bạn thấy mỗi 12 năm là Lộc tồn lưu niên lại thay đổi vị trí, kéo theo Kình Đà luôn chứ không thể nào cho rằng địa bàn nhập hạn luôn luôn giống nhau mỗi 12 năm.

- Nếu đại hạn có Hóa Khoa, Quang Quý (Sửu Mùi), tiểu hạn có Xương Khúc, Khôi Việt mà Lưu Thái Tuế lại gặp phi tinh Khôi Việt Hồng Hỉ thì thuận lợi nhất về công danh, đi thi chắc chắn phải đậu, nhất là khi thấy Mệnh có Thiên Lương, Thiên Tướng đắc địa hội Tả Hữu, Quyền Lộc nữa. Nhiều khi tiểu hạn hơi xấu mà Lưu Thái Tuế hội nhiều sao tốt đẹp vẫn được hanh thông, tuy vẫn có trở ngại lúc đầu, tỷ dụ như thi đậu kỳ nhì, hoặc buôn bán thua lỗ đầu năm nhưng giữa năm trở đi lại phát tài.

- Về phương diện Lưu Thiên Mã, nhiều nhà Tử vi cho rằng những người nào Mệnh, hoặc Thiên Di hay “Thân” cư tại Dần Thân Tỵ Hợi hay phải di chuyển, xuất dương, xuất xứ vì Thiên Mã cố định luôn luôn ở 4 cung đó và cả Thiên Mã lưu niên cũng vậy. Còn đối với những người khác, nhất là những người có cách làm việc cố định không bao giờ quý bạn nên đoán là họ sẽ thay đổi công việc mỗi khi gặp Lưu Thiên Mã vì cứ vài năm thế nào chẳng gặp trực tiếp hoặc gián tiếp Lưu Thiên Mã hoặc Thiên Mã cố định. Đối với những người này phải có thật nhiều yếu tố thay đổi mới có thể đoán được, tỷ dụ như đại hạn có Thiên Đồng, Thiên không rồi tiểu hạn có Mã cố định gặp Lưu Thiên Mã, mà lại phải chiếu về cung thuộc về mình, tức là Mệnh, Quan lộc, Tài bạch, Thiên Di, “Thân” chứ nếu chiếu về Phụ Mẫu, Tử tức thì cũng vẫn chưa thể quả quyết được. Ngoài ra, còn cần 2 đại hạn liền nhau thật khác nhau, để cho có sự thay đổi mạnh mẽ mỗi khi chuyển đại hạn.

Sau hết, ngoài các phi tinh kể trên, ta còn cần chú trọng đến Lưu Tuần, Triệt mà ít sách đề cập tới mặc dầu rất quan trọng (Cách an 2 sao lưu động này cũng như cách thông thường, tỷ dụ như năm nay Giáp Dần thì Tuần ở Tý Sửu và Triệt ở Thân Dậu). Thực thế, nhiều khi Lưu Tuần, Triệt còn ảnh hưởng mạnh mẽ hơn Tuần Triệt cố định, nếu luận đoán về tiểu hạn. Tỷ dụ như cung nhập hạn có Tử Phủ cư Thân hội nhiều sao tốt đẹp và hợp với đại hạn cũng như Mệnh nhưng vẫn không thấy hanh thông, đó cũng chỉ vì Lưu Tuần hoặc Lưu Triệt đã án ngữ làm mất gần hết cách tốt đẹp đó đi. Nhưng gặp trường hợp hạn quá xấu nếu may mắn được Lưu Tuần, Triệt án ngữ thời vẫn có thể chắc qua khỏi được. Như vậy quý bạn thấy mỗi tiểu hạn trùng nhau đã có khá nhiều yếu tố khác nhau.

Thời gian

Sau hết, ta cần phải lưu ý đến yếu tố thời gian tuy không có tính cách lý thuyết về tử vi, nhưng nhiều khi ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc giải đoán. Tỷ dụ như:

- Hai sao Tả Hữu thường thường chỉ ứng nghiệm trong thời đương số còn trẻ vì có trẻ mới hăng say hoạt động cho phù hợp với đặc tính của Tả Hữu, chứ khi đã lớn tuổi dù có muốn tích cực chăng nữa Tả Hữu cũng “già nua” rồi khó lòng giúp cho đương số được phong độ như trước. Về sao Đào Hồng cũng tương tự như vậy, nếu nằm trong những đại hạn ta còn thanh niên mới đúng môi trường chứ từ 60 tuổi trở đi 2 sao đó không những không giúp ích gì lại còn làm cho ta yếu đuối thêm và có khi đưa đến tận số. Còn sao Triệt thì từ năm 30 tuổi trở đi cũng bớt hẳn ảnh hưởng đi, nếu cung nhập hạn từ 30 năm trở về trước đang tốt trở thành xấu vì Triệt án ngữ thì từ 30 năm trở về sau phải đoán là tốt nếu gặp sao đó nữa.

- Về các hung tinh (như Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp) nói chung thường hay hoạt động sớm nếu ở Đại hạn thì hay ứng vào mấy năm đầu và ở tiểu hạn ứng vào đầu năm, nhất là khi gặp chính tinh có ảnh hưởng sớm (tức là bắc đẩu tinh). Hoặc có khi trong đại hạn còn trẻ bị hung tinh này quấy phá nhưng đến đại hạn cách đó mấy chục năm sau cũng gặp hung tinh đó sự phá hoại lại quá nhẹ.

Qua các thí dụ trên, quý bạn hẳn nhận thấy việc đặt ra nguyên tắc hoặc hệ thống để giải đoán tiểu hạn rất khó thực hiện vì có quá nhiều yếu tố kết hợp không giống nhau và để kết luận tôi chỉ xin nhắc quý bạn là sự tốt xấu của tiểu hạn không phải hoàn toàn do đặc tính tốt xấu của các sao nhập hạn mà do sự tương hợp giữa tiểu hạn, đại hạn và Mệnh Thân.

KHHB số 74E2


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phép đoán tiểu hạn trên lá số xét gốc Đại hạn và các sao lưu niên

Luận giải vận số người tuổi Thìn theo ngày sinh

Người tuổi Thìn sinh ngày Tý: Do được sao Thiên Tướng chiếu mệnh nên số có tài lộc, sự nghiệp thuận buồm xuôi gió.
Luận giải vận số người tuổi Thìn theo ngày sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sinh ngày Tý: Do được sao Thiên Tướng chiếu mệnh nên số có tài lộc, sự nghiệp thuận buồm xuôi gió.

cang lon cang xinh
 

Sinh ngày Sửu: Người tuổi Thìn sinh vào ngày này có sao Phúc Tinh chiếu mệnh nên được hưởng phúc đức. Tuy nhiên, họ cũng gặp không ít chuyện cãi cọ rắc rối.

Sinh ngày Dần: Người sinh ngày này có sao Dịch Mã chiếu mệnh nên số hay phải đi xa.

Sinh ngày Mão: Tuổi Thìn sinh ngày này được nhờ phúc tổ tiên, danh lộc dồi dào.

Sinh ngày Thìn: Nhờ có sao Hoa Cái chiếu mệnh nên người sinh ngày sinh ngày này thông minh, khéo léo, tinh thông sử sách. Tuy vậy, người này thường hay giữ phiền muộn trong lòng.

Sinh ngày Tỵ: Là người may mắn được sao Thái Dương chiếu mệnh nên mọi sự đều thành, có quý nhân phù trợ nhưng đôi lúc cũng gặp điều không lành.

Sinh ngày Ngọ: Có số bất ổn, thường gặp nhiều trở ngại trong công việc và cuộc sống.

Sinh ngày Mùi: Do bị sao Thái Dương chiếu mệnh nên cần đề phòng tai nạn và những chuyện buồn phiền trong đời.

Sinh ngày Thân: Gặp vận tam hợp Thân - Tý - Thìn, tạo thành Thủy cục nên mưu sự tất thành. Tuy nhiên, vẫn cần phải đề phòng bị tiểu nhân hãm hại.

Sinh ngày Dậu: Số mắc bệnh nhẹ nhưng may nhờ sao Nguyệt Đức chiếu mệnh nên mọi sự cát tường.

Sinh ngày Tuất: Thìn - Tuất xung khắc nên có số hao tài tốn của.

Sinh ngày Hợi: Vợ chồng hòa hợp, mọi sự đều thuận. Tuy có tai ương nhưng gặp hung hóa cát. 

(Theo nhân duyên & tướng cách đàn bà)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận giải vận số người tuổi Thìn theo ngày sinh

Nguồn gốc của Âm lịch và Tử vi

Hầu như dân ở các nước Việt, Hàn, Nhật, và Trungquốc nơi khai sinh ra khoa lịch số, đều biết nhiều hay nghe nói về Âm lịch, dù có đang dùng Dương lịch như một tiêu chuẩn chung cho cả thế giới hiện nay. Thích hay không thì ít nhất đa số cũng đều chấp nhận chuyện ăn mừng tết Nguyên Ðán theo truyền thống dựa vào Âm lịch. Bởi vậy nên phần đông các cuốn lịch in ra trong các nước nói trên đều có phần ghi chú thêm ngày "Ta" đi kèm. Riêng đối với người Việt thì hình như nhà nào cũng thích có cuốn lịch thuộc loại tam tông miếu để treo tường, ngay cả trong những gia đình sống ở hải ngọai. Mục đích chính không phải vì thích coi theo ngày ta, mà nguyên nhân có lẽ là do từ tôn giáo và tín ngưỡng, biết ngày nào rằm hay mùng một để ăn chay (theo Phật gíao).

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chỉ có một thiểu số ít hơn là dùng âm lịch thường xuyên để nghiên cứu hay áp dụng vào các bộ môn khoa học huyền bí, như lấy số tử vi hay coi ngày lành tháng tốt cho chuyện làm đám cưới hỏi, khai trương công việc làm ăn v.v. 

Hiện nay nghề làm lịch số của Trung Quốc không còn giữ được bí mật theo kiểu cha truyền con nối như xưa, vì nhờ vào phương tiện in ấn dồi dào từ sách vở ghi chép còn sót lại để nghiên cứu. Hơn nữa, Âm lịch cũng không còn thực dụng, vì hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đang chính thức dùng Dương lịch. Dù vậy, hậu quả của việc bảo vệ bí mật trong mấy ngàn năm trướcđây, cũng đã vô tình đánh mất đi cơ hội dành cho những thế hệ về sau này của Trung Quốc, nghiên cứu và tìm ra vận hành của Thái dương hệ, trước Âu châu ít nhất là vài trăm năm!

Nếu tình cờ mỗi năm một lần, chúng ta thấy xuất hiện một từ quen thuộc gọi theo tên âm lịch của năm đó, như năm nay 2002 là Nhâm-Ngọ, 2003 là Quý-Mùi, hay năm tới 2004 Giáp-Thân, thì dám chắc ai cũng đã ít nhất một lần thắc mắc, bằng cách nào và dựa vào đâu, các nhà lịch số Trung hoa phát minh ra những từ ngữ trên? Nói rõ hơn là mười (10) Thiên Can và mười hai (12) Ðịa Chi. Xin nhắc lại ở đây, 10 Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Bài viết này sẽ dựa trên một vài dữ kiện kiểm chứng được của khoa học, để truy tìm lại phương pháp làm lịch mà các Chiêm tinh gia Trung hoa thời xưa có thể đã xử dụng. Bằng với tinh thần tôn trọng sự thật và học hỏi, người viết xin minh xác là những gì được trìnhbày sau đây có thể chưa được chính xác đúng hoàn tòan như đã xảy ra. Nhưng hy vọng sẽ là những ý tưởng khởi đầu, hay nếu có thể được, coi như là một đề nghị nghiên cứu thêm cho những vị có nhiều năng khiếu tự nhiên giỏi về các bộ môn Tử vi Lý số, để cùng làm sáng tỏ những gì đã bị hiểu nhầm là khoa học huyền bí. 

Nội dung chính của bài viết này sẽ trình bày và giải thích tại sao, chỉ bằng mắt thường quan sát với phương tiện ghi chép còn thô sơ, các chiêm tinh gia Trung hoa đã tính được ra Thiên can, Ðịa chi và LụcTuần Hoa Gíap, hay khái niệm về vận hành 60 năm trong âm lịch. Phần cuối của bài viết sẽ giải thích một vài điều thắc mắc về những bí ẩn của khoa Tử vi Ðẩu số.

Nguồn gốc Lịch số

Âm lịch (lunar calendar) hay việc soạn thảo lịch số dựa vào vận hành của mặt trăng không phải bắt đầu từ Trung hoa như nhiều người lầm tưởng. Theo dữ kiện cóđược từ các nhà khảo cổ với bằng chứng rõ rệt, thì nền văn minh Sumerian, phát triển bên cạnh con sông Tigris cách đây hơn 6000 năm (khoảng từ năm 5000-4000 BC, để sau này thành trung tâm của xứ ngàn lẻ một đêm, hay ngày nay còn gọi là Baghdad, thủ đô của Iraq) đã biết làm lịch dựa vào vận hành của mặt trăng. Ðế quốc La mã ngay trong thời trước Julius Cesar ( 40 BC ) cũng dùng loại Âm lịch này. Chọn mặt trăng để làm lịch có thể bởi hai lý do: Dễ nhìn vì ánh trăng ban đêm không nóng gay gắt và khó nhìn như mặt trời ban ngày. Thay đổi hình dạng thường xuyên từ khuyết tới tròn dễ thấy hơn là mặt trời hầu như ít khi thay đổi. Tuy nhiên, còn một lý do khá quan trọng khác ít người nghĩ đến, là do yếu tố thiên nhiên. Xứ Ai cập (Egypt) nằm ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer, khoảng 23°27 từ xích đạo) nên đa số nhiều người đã thấy được hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Nghĩa là trong khoảng từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 9, nếu cắm một cái cọc thật thẳng đứng, sẽ thấy bóng của cây cọc nhập trùng ngay dưới gốc của nó vào lúc 12 giờ trưa, ít nhất là trong vài ngày (Chỉ những nước nằm giữa đường xíchđạo và Bắc bán cầu trong khoảng Vĩ tuyến từ 0 - 23°27 mới thấy được hiện tượng trên. Ngược lại, trong vùng Nam Bán cầu thì khoảng từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 3). Nhờ quan sát hiện tượng đó, dân Ai cập cách đây khoảng hơn 4000 năm đã tính ra gần đúng số ngày trong năm (365 thay vì 355 như Âm lịch), và cũng chính là lý do họ chọn làm lịch theo mặt trời, lưu truyền Dương lịch cho đến bây giờ! 

Các thủ đô của Trung hoa như Trường An hay Bắc kinh, vì nằm trong vùng ôn đới cách xa trên đường Phân cực (Tropic of Cancer) nên không thấy được hiện tượng nói trên, cũng như khôngcó ấn tượng nhiều về mặt trời, và cũng là lý do dể hiểu tại sao họ đã dùng mặt trăng để làm lịch. 

Theo đúng như trong sử Trung hoa ghi lại thì khoa Lịch số đã có từ thời Hoàng Ðế, cách đây hơn 4000 năm, do các chiêm tinh gia soạn ra (nghĩa nguyên thuỷ là nhà thiên văn hay chuyên gia coi sao trên trời, không phải bị biến nghĩa ra thành "thầy bói toán" như về sau này!) chiêm tinh gia biên soạn lịch số để định chuẩn thời gian cho việc hành chánh và cai trị của triều đình Vua quan, nhưng đồng thời cũng giúp rất nhiều cho nghề nông trongviệc tiên đóan thời iết hay thu hoạch mùa màng. Chắc chắn trong giai đoạn đầu khi mới có cho đến khoảng sau thời Hán Cao tổ, âm lịch cũng không tránh khỏi nhiều sai lầm, nhất là rất đơn sơ và chưa có Thiên can hay Ðịa chi như sau này. Bằng chứng là trong thời kỳ phát triển của Chu Dịch (1150 - 500 BC) cũng chưa nghe nói đến. Phải đến thời "Tam Quốc" của Khổng Minh (Gia cát Lượng) vào khoảng 200-300 AD thì mới có văn tự rõ rệt nói về các Thiên Can, đồng thời xuất hiện các khoa lý số như Kỳ Môn Ðộn Giáp, Thái ất Thần toán, hay Lục Nhâm Ðại Ðộn v.v. Hầu hết các sử gia Trung quốc đều công nhận là chỉ vào thời kỳ của Nhà Hán, sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên từ thời Ðông chu Liệt quốc, nền văn minh Trung hoa mới thật sự khởi sắc và đi lên trong Thiên niên kỷ đầu tiên (0 -1000 AD). 

Theo chínhsử ghi lại, những nghiên cứu và phát minh của Trung hoa thật sự đã bắt đầu từ thời Tần thủy Hoàng, khi vị Hoàng đế tài giỏi nhưng tàn bạo này, có thể động viên hay chiêu dụ được nhiều đạo sĩ (coi như là khoa học gia theo tiêu chuẩn thời đó), trong việc thám hiểm, đi tìm kiếm các kỳ hoa dược thảo để luyện thuốc trường sinh bất tử cho ông. Dưới nhận xét bình thường thì cho rằng đó là việclàm xa xỉ, hoang tưởng và mê muội. Nhưng trong lãnh vực nghiên cứu khoa học ngày nay, Tần Thủy Hoàng rất xứng đáng được coi như đã có công sáng lập một cơ cấu kiểu Hàn lâm Viện khoa học đầu tiên cho nhân lọai! Những chi phí trong việc chiêu đãi hay thưởng công cho các đạo sĩ thời đó, dưới cái nhìn thiếu hiểu biết cho là phung phí, nhưng so với tỷ lệ ngân sách dành riêng cho khảo cứu khoa học ngày nay thì chẳng có nghĩa lý gìcả, dù là của một nước đang phát triển! Chính nhờ làm việc và sống chung tập thể với nhau đó, đã vô tình tạo ra môi trường tốt đẹp cho những sáng kiến mới, thi đua học hỏi, trao đổi kiến thức giữa các đạo sĩ với nhà vua, và có thể đã là cơ sở đóng góp cho nhiều phá minh quan trọng về khoa học và kỹ thuật sau này của Trung quốc. Hoá chất Lưu huỳnh dùng để làm thuốc súng, than đá, thủy ngân, chì, nam châm có từ tính, cách luyện thép, bàn ính (abacus), v.v. có thể đã được bắt đầu nghiên cứu hay tìm ra trong thờ kỳ này. Thí dụ về những huyền thoại phù phép mà Khổng Minh xử dụng, là do những phản ứng đặc biệt từ các hoá chất độc hại như lưu huỳnh, thuỷ ngân hay các loài dược thảo trộn chung với nhau khi bị đốt cháy. Kết qủa là làm cho đối phương bị gây mê, mất trí hay mạng vong trong những vùng gọi là bát qúai trận đồ. Nhưng một trong những thành quả tốt đẹp hơn hết chính là bộ môn xem thiên văn khí tượng bắt đầu xuất hiện được nhiều người biết đến. Nhờ vậy mà khoa lịch số đã được hiệu chỉnh, thay đổi đúng hơn cho tới bây giờ! 

Phương pháp soạn Âm lịch

Có thể chia ra làm hai giai đọan phát triển chính cho việc soạn thảo âm lịch.

Giai đoạn I: Kéo dài khoảng gần 2000 năm từ thời Hoàng đế cho đến thời Khổng tử. Trong giai đoạn này chỉ có ngày, tháng và năm. Chưa có chia ra giờ cũng như chưacó thiên can và địa chi. Công việc soạn lịch vào thời sơ khai này rất là dễ hiểu, không có gì phức tạp như nhiều người thường lầm tưởng. Những chiêm tinh gia thời đó chỉ dựa vào khoảng cách giữa hai tuần trăng tròn để tính số ngày cho một tháng. Khoảng cách của một năm thì được định bằng thời điểm vào lúc Trăng tròn nhất, khoảng ngày rằm tháng 8 (sau này thành ra tết Trungthu), và một phần dựa vào thời tiết thay đổi của 4 mùa. 

Khó khăn duy nhất lúc ban đầu là cứ cách khoảng chừng hai năm thì tháng có trăng tròn nhất bị kéo dài thêm một tháng. Ðó là những tháng nhuận, và cách giả iquyết thực tế đơn giản lúcbấy giờ là thêm nguyên một tháng vào những năm nhuận. Còn làm sao họ biết được năm nào nhuận là do phỏngchừng và dựa vào kinh nghiệm riêng của những đời trước theo kiểu cha truyền con nối. Chính cách làm theo lối thuận tiện như trên, nên âm lịch thường bị thành kiến cho là thiếu chính xác! Có thể trong thời kỳ này, tháng nhuận chỉ được thêm vào trong tháng trước tháng có trăng tròn nhất là tết Trung thu(?) Chỉ sau này khi bắt đầu ăn mừng ngày tết Nguyên đán và để không bị sai ngày quá xa, nên những nhà soạn lịch phải chia ra cho đều, thêm tháng nhuận vào các tháng khác. 

Ngoài ra có vài chi tiết cần được để ý là hệ thống Âm lịch dựa vào thiên can và địa chi chỉ có phân biệt tối đa là 60 năm, nên nếu muốn viết lịchsử, họ thường dùng năm cai trị của Vua hay triều đại làm chuẩn. Thí dụ như trong sách thường viết là năm thứ mấy đời Vua nào đó gặp thiên tai bão lụt v.v. Lâu dần trở thành thói quen dùng luôn cho đến khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương thay đổi.

Về giờ giấc, lịch số ở thời kỳ đầu cũng chưa chia ra 12 giờ như sau này. Ðể định giờ, họ dùng cách nói phỏng phừng theo vị trí của mặt trời, mà mãi cho đến bây giờ, nông dân ít học ở các vùng quê vẫncòn dùng, như khi nói mặt trời vừa lên quá ngọncây (khoảng 8 đến 9 giờ sáng mùa hạ), hay mặt trời đứng bóng giữa trưa khoảng 12 giờ v.v. 

Những gì vừa trình bày có thể kiểm chứng bằng bộ sách Chu dịch đã được soạn ra khoảng từ thời nhà Chu (1150 BC) cho đến thời Khổng tử (550 BC). Cụ thể là việc lập quẻ Dịch. Trong bộ Chu Dịch chính bản chỉ ghi cách lập quẻ duy nhất là dùng cỏ Thi, còn gọi là phép bói cỏ Thi, mà không dùng đến giờ nào như Khổng Minh dùng để bấm độn sau này. Các lời bàn của 64 quẻ trong bộ Chu Dịch nguyên thuỷ hoàn toàn không có nói rõ về giờ giấc.

Giai Ðoạn II: Từ thời Khổngtử cho tới nhà Ðường khoảng chừng 1000 năm. Thời kỳ này văn minh Trung Hoa bắt đầu khởi sắc đi lên. Các Ðạo sĩ hay Chiêm tinh gia làm việc có phương pháp và khoa học hơn. Nhờ vậy, họ đã tìm ra hay khám phá được chu kỳ vận chuyển của các hành tinh trong Thái Dương hệ, và từ đó âm lịch mới được thay đổi để thêm vào Thiên can, Ðịa chi, Lục tuần Hoa giáp (hay chu kỳ 60 năm). Trướckhi đi sâu vào chi tiết, và để quý đọc giả dễ theo dõi vấn đề hơn, người viết xin nhắc lại một vài dữ kiện căn bản như sau:

Trong những đêm tốt trời không mây, nếu dùng mắt thường chúng ta có thể đếm được cả vài trăm ngôi sao là chuyện thường. Tuy nhiên, tất cả đều thấy gần như cố định không thay đổi theo năm tháng, vì không phụ thuộc vào một hệ thống vệ tinh như Thái dương hệ, hoặ cgiả có chu kỳ di chuyển quá lớn đến cả ngàn vạn năm. Còn lại, trừ trường hợp đặc biệt như sao chổi (Comet) và sao băng (Asteroid), chúng ta chỉ thấy được những hành tinh thuộc Thái dương hệ dic huyển mà thôi. Trong tám (8) hành tinh chính, trừ mặt trời và mặt trăng, mắt thường của chúng ta chỉ thấy được có năm(5) hành tinh. Ðó là Thủy tinh(Mercury), Kim tinh(Venus), Hỏa tinh(Mars), Mộc tinh(Jupiter), và chót là Thổ tinh(Saturn). Ba(3) hành tinh không thấy được bằng mắt thường là Diêm vương tinh (Uranus), Hải vương tinh (Neptune) và Thiên vương tinh(Pluto). Không biết có phải là trùng hợp ngẫu nhiên của tạo hóa, hay sắp đặt khéo léo của con người, trong 8 quái (Bát quái hay 8 hành?) của Dịch lý, các "Khoa học gia" thời đó chỉ thấy được có 5 quái: Ðịa, Sơn, Thủy, Lôi, và Hỏa, nên phát minh ra Ngũ hành (Ngườ viết đã trình bày trong bài "Những khám phá mới về Dịch lý và Ngũ hành" cách đây hơn hai năm.) .

Ðể tìm hiểu về 5 hành tinh thấy được chuyển động như thế nào, các Chiêm tinh gia thời đó đã dùng một phương pháp đơn giản nhưng rất khoa học, là ghi chép lại vị trí của các hành tinh sau một thời khoảng nhất định. Thời điểm tốt nhất để xem thiên văn là mỗi tháng một lần vào cuối hay đầu tháng, lúc trăng hoàn toàn bị che mất (đêm 29, 30 hay 1). Muốn định rõ vị trí của cácsao, có lẽ họ cũng biết dùng theo phương pháp chấm tọa độ, nhưng kém chính xác rất nhiều. Dùng sao Bắc đẩu làm chuẩn và theo đồ hình Bát quái, họ có thể định phương vị (hay khẩu độ) của một sao, và kế đến là cũng theo lối ước chừng độ cao của mặt trời để định khoảng cách từ đường chân trời. Thí dụ như để định vị ngôi sao ở 220 độ từ hướng Bắc (theo chiều kim đồng hồ) và 25 độ cách chân trời nằm ngang, họ có thể nói là nằm ở giữa cung Khôn (hướng Tây-Nam) cách chân trời khoảng một gang tay chẳng hạn. Về sau để được chính xác hơn, có thể các chiêm tinh gia đã dùng đến các tên của quẻ dịch để phân chia thành 64 cung trên vòng tròn. Ðó chính là lý do tạisao các nhà nghiên cứu về sau cóthể hiểu lầm vì bị nạn "tam sao thất bổn", nên tưởng là môn lịch số có nguồn gốc từ Dịch lý mà ra. 

Dù bằng cách nào thì cũng nhờ khái niệm tuần hoàn và chu kỳ âm dương của Dịch lý, chiêm tinh gia thời đó có thể tin chắc là các vì sao đều chuyển động theo một chu kỳ nhất định nào đó. Nếu không thì có lẽ họ không bỏ thì giờ quá lâu cho cả một đời người để tìm ra gần đúng chu kỳ của 5 hành tinh trong Thái dương hệ, trước Âu châu cả hơn ngàn năm!

Kết quả công trình nghiên cứu và ghi chép vị trí sao của các Chiêm tinh gia Trung hoa nói trên cho thấy là cứ mỗi 60 năm thì cả 5 hành tinh đều quay trở về lại gần vị trí cũ! Ðặc biệt hơn hết, là vào khoảng cuối năm Quý Hợi và đầu năm GiápTý thì cả 5 hành tinh đều hội tụ lại, và nằm sát với nhau chung một hướng. Xin nhắc lại đây để tránh hiểu nhầm, nhờ tìnhcờ ngẫu nhiên quan sát thấy hiện tượng 5 sao tụ hội về một chỗ trước khi phân tán ra, nên có thể các nhà lịch số cho rằng đó là khởi điểm đầu tiên cho chu kỳ 60 năm, và họ đặt tên cho năm có hiện tượng đó là GiápTý, đứng đầu trong bảng lục tuần hoa giáp. 

Sau đây là bảng tóm lược số vòng chu kỳ quay quanh mặt trời của 5 hành tinh, dựa theo thời gian một (1) năm của trái đất làm chuẩn:


Dựa vào bảng tính toán chu kỳ ở trên cho thấy có một vài chi tiết cần chú ý: Sau khoảng chừng 20 năm thì các sao tụ về tại một vị trí khác, và phải sau gần 60 năm của trái đất, thì cả bốn(4) sao Thủy tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, và Thổ tinh mới quay về gần đúng vị trí đầu tiên hay xê xích một chút. Khoảng cách sai số sau 60 năm là từ 10 đến 30 cung độ (arc), do các số lẻ thứ nhất của số chu kỳ trong 60 năm đều nằm trong giới hạn của 0 - 0.1 hay 0.9 - 1.0 theo vòng tròn (360 độ) của mặt trời. Ðối với người quan sát các hành tinh đứng từ vị trí trên trái đất và ở một gốc độ chéo, thì chắc sẽ nhìn thấy khoảng cách hay độ xê xích nhỏ hơn rất nhiều, hoặc có thể không thấy được độ sai biệt bằng mắt thường! Riêng trường hợp của Kim tinh (Venus) tuy nằm gần như đối diện với vị trí cũ (số lẻ 0.54), nhưng chu kỳ quay chung quanh mặt trời chỉ có chừng hơn 7 tháng, nên chỉ cần thêm khoảng 4 tháng (cũng còn trong 1 năm của trái đất) là quay vòng trở lại để hội tụ cùng các sao. 

Như vậy, với một vài bằng chứng ở trên có thể tạm kết luận rằng: Chuyện các chiêm tinh gia Trung hoa cách đây hơn 1000 năm đã tìm ra chu kỳ gần đúng của 5 hành tinh là sự thật hiển nhiên rất dễ hiểu theo khoa học. Hình vẽ thứ hai sau đây cũng để minh chứng cụ thể cho thấy vị trí của 5 hành tinh vào tháng 2 năm 1984 (dương lịch, âm lịch là 30 tháng Chạp năm Quý Hợi, gần tết Nguyên đán) theo cách tính đúng qũy đạo chính xác của khoa học ngày nay. 

Tuy nhiên cũng xin lưu ý và nhấn mạnh một lần nữa là do sự trùng hợp ngẫu nhiên đưa đến, không phải cứ 60 năm là các sao phải tụ về ở cùng một phương vị giống như vậy. Lý do là vì các sai số khoảng 0.06 cho Mộc tinh và 0.037 cho Thổ tinh như đã nói, nên phương vị của các sao tụ hội lại cũng thay đổi xê xích mộtchút sau khoảng 60 năm. Muốn các sao tụ hội về cùng phương vị gần giống như cũ phải mất khoảng 1600 năm, hay gần 27 lần của chu kỳ 60 năm! Nhưng dù vậy cũng chỉ gần đúng mà thôi. Nghĩa là trong thực tế không hề có sự trùng nhập lại giống y hệt như cũ được!

(Chú thích: Mercury bị che bởi Venus và Mars nên không thấy trong hình)

Nhân đây cũng nên nhắc đến một sự kiện lịch sử có ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả nước Việt nam. Do bởi các vua chúa Trung hoa thời bấy giờ vì quá tin vào lập thuyết của các chiêm tinh gia, cho rằng một khi các tinh tú đều chầu về một phương nào thì nơi đó tụ hội được nhiều linh khí, nghĩa là có "Thánh nhân" hay bậc đế vương sinh ra đời! Bởi vậy nên tính ra trong khoảng 400 năm ( 400 - 800 AD) vào thời nhà Ðường, các Sao đều chầu về phương Nam (gần giống như hình vẽ trên), làm cho họ phải lo sợ. Từ nguyên nhân đó, mới có việc sai phái đạo sĩ Cao Biền làm Thái thú để tìm cách trấn yểm phương Nam. Ngoài ra sau này họ cũng thường gởi các "Gián điệp" giả dạng đội lốt tu sĩ hay thầy Ðịa lý và thầy thuốc bắc để dò tìm nhân tài của Việ nam. Một khi phát hiện được nơi nào có "thần đồng" hay thiếu niên giỏi chữ là họ tìm đến để thử tài và tìm hiểu. Nếu đúng thì bằng nhiều cách như dụ dỗ, mua chuộc nếu cha mẹ nghèo, xin cho làm con nuôi để "dạy dỗ và huấn luyện chữ nghĩa v.v. Ðó là lý do tại sao trong những câu chuyện kể về các vị thần đồng Nho học của Việt nam thời xưa, thường nói tới việc có những người "khách lạ" tìm đến để ra câu đối và thử tài thông minh!

Nếu những gì nói trên đúng theo thuyết của các chiêm tinh gia Trung hoa, thì trong số những đứa trẻ sinh năm 1984-85 ở Việt nam sẽ cho ra nhiều thiên tài xuấtchúng ngoại hạng trong tương lai (!?) Ðúng hay sai thì chưa biết, nhưng ứng nghiệm vào các quốc gia thuộc vùng Ðông nam A¨ thịnh vượng giầu có hơn trong vòng 20 năm qua, và dĩ nhiên kết qủa là sẽ cho ra nhiều trẻ em thần đồng nhờ được nuôi dưỡng huấn luyện và giáo dục trong môi trường tốt hơn! 

Nói chung với cách tính phỏng chừng và đơn giản dựa vào ba sao là: Hỏa tinh (Mars) có chu kỳ gần 2 năm, Mộc tinh (Jupiter) có chu kỳ khoảng 12 năm, và Thổ tinh có chu kỳ gần 30 năm, các nhà làm Lịch số đã tìm ra mẫu số chung gần đúng là 60 năm để cả ba sao tụ hội lại gần nhau, và có cùng chung một cung, hay cùng phương vị theo bát quái (mỗi cung khoảng 45°.) 

Ðiều cần biết thêm ở đây chính là chu kỳ gần 2 năm của sao Hỏa (Mars), nghĩa là cách khoảng một năm thì các chiêm tinh gia thấy sao Hỏa nằm ở vị trí hướng đối ngược lại. Do hiện tượng trên trùng hợp với lý thuyết về Dịch hay luật âm dương, nên có thể các nhà lịch số tin rằng thời gian cũng giống như vậy là cứ một năm Dương một năm Âm thay đổi đều nhau! 

Mộc tinh (Jupiter) là sao quan trọng nhất có chu kỳ gần đúng 12 năm. Quan trọng theo các nhà Lịch số thời bấy giờ có thể từ hai lý do. Thứ nhất, đó là sao duy nhất để phân biệt và chuẩn định sự khác biệt của các năm. Thổ tinh (Saturn) vì xa và khó thấy hơn, nhất là chu kỳ đầu tiên quá lâu và có tới gần 30 năm không chính xác bằng Mộc tinh. Riêng Hỏa tinh thì lại càng không chính xác vì chu kỳ quá ngắn chỉ có khoảng gần 2 năm. Thứ hai, dựa vào kinh nghiệm tích lũy từ quan sát và thực nghịêm của các chiêm tinh gia theo lối cha truyền con nối có thể đã kéo dài trong vài trăm năm, sau Mặt trời và Mặt trăng, Mộc tinh có ảnhh ưởng nhiều nhất đối với con người và Trái đất (sẽ giải thích thêm ở mục Tử Vi). Chính vì vậy, họ đã dùng chu kỳ 12 năm của Mộc tinh để đặt tên cho 12 năm, còn gọi là Thập nhị Ðịa chi. Dám chắc mới đầu chỉ có tên bằng con số 1, 2, 3, 4,...12. (Nếu để ý thì thấy các số lẻ 1, 3, 5...thuộc số Dương, số chẳn 2, 4, 6... là số Âm, phù hợp với Dịch lý đã nói ở trên). Còn tại sao sau này lại có tên của 12 con vật là Tý, Sửu, Dần...v.v, thì lại thuộc một vài lý do khác không nằm trong phạm vi bài viết này, nên xin miễn bàn ở đây. Nói chung, yếu tố quan trọng là nhờ vào quan sát thực nghịêm, một phương pháp thông dụng trong nghiên cứu khoa học.

Sau cùng, có lẽ các chiêm tinh gia cũng chỉ thấy có sao Thổ tinh là có chu kỳ lâu nhất trong 5 hành tinh, nên theo trình độ hiểu biết thời bấy giờ, họ cho rằng đó là vị thần chính của nhà Trời ảnh hưởng đến mọi sự sắp đặt và thay đổi của "Thượng đế", nên gọi là Thiên Can (?). Nhưng tại sao là 10 mà không là 5, vì 5 nhân 12 mới bằng 60? Hỏi vậy là xem thường khả năng về Toán của chiêm tinh gia! Nếu chỉ dùng 5 số Thiên can ghép với 12 Ðịa chi sẽ bị trở ngại ngay, nhất là không giải quyết được nguyên tắc Âm Dương, một năm Dương và một năm Âm đi liền với nhau như đã giải thích về chu kỳ của sao Hỏa ở trên. Ðể giải tỏa vấn nạn đó, các chiêm tinh gia buộc phải dùng gấp đôi con số 5 lên thành 10, tuy vẫn duy trì 5 đặc tính Ngũ hành của Thiên can. Bởi vậy cho nên bây giờ chúng ta mới có hai Can đi liền với nhau có cùng chung một Hành (theo thuyết Ngũ hành), và có một Dương và một Âm. Thí dụ như Giáp với Ất (hành Mộc), Bính với Ðinh (Hỏa), Mậu với Kỷ (Thổ), Canh với Tân (Kim) và Nhâm với Quý (Thủy). 

Ngoài ra, do ảnh hưởng của thuyết Ngũ hành, việc đặt hay gọi tên 5 hành tinh theo Ngũ hành là hoàn tòan dựa vào màu sắc khi nhìn bằng mắt thường, và không có liên hệ gì với đặc tính vật lý. Theo lý thuyết của Ngũ hành về màu sắc, gọi là Mộc tinh vì có sắc xanh. Hỏa tinh vì có sắc đỏ như lửa. Thổ tinh vì có sắc vàng, Kim tinh (Venus) vì có sắc trắng do có độ sáng mạnh, và Thủy tinh (Mercury) có sắc đen vì quá gần mặt trời nên không thấy được sáng lắm!

Tóm lại hệ thống Âm lịch dựa vào các hành tinh chính sau: Mặt trời để định Giờ và Ngày, Mặt trăng dùng cho Tháng, Mộc tinh (Jupiter) dùng cho Năm hay 12 Ðịa chi, và sau cùng Thổ tinh (Saturn) và Hoả tinh (Mars) dùng để định Thiên can (Âm hoặc Dương) và Ðại Chu kỳ 60 năm hay LụcTuần Hoa Giáp. Ghi nhận thêm ở đây là theo âm lịch, mỗi tháng chia ra làm 3 tuần, có khoảng từ 9 đến 10 ngày, gồm: Thượng, Trung, và Hạ tuần. Về sau này thì các nhà soạn lịch tính và thêm vào các ngày đặc biệt như Ðại hàn, Tiểu hàn, Lập Đông, Hạ chí v.v 

Những Bí ẩn của khoa Tử vi 

Trong suốt hơn một ngàn năm, bộ môn Tử vi được coi như là khoa học huyền bí bởi tất cả các yếu tố an sao và giải đóan đều dựa theo một vài công thức định trước, mà không có sự giải thích hay chứng minh lý do tại sao. Dù tin hay không tin, thực tế cho thấy khoa tử vi cũng đã được lưu truyền trong dân chúng khá lâu, và ít nhất cũng đã có một số người chấp nhận, nghĩ rằng có thể dùng để đoán được phần nào vận mệnh tương lai của con người! Ðiều đáng ngạc nhiên là nếu đúng theo dữ kiện cho thấy, khoa Tử vi hiện tại này chỉ còn có Việt nam là đất dụng võ, dù có nguồn gốc từ Trung hoa. Ngay cả các sách viết về Tử vi ở TrungHoa cũng có nhiều, nhưng họ không thích xài Tử vi mà lại chọn các môn khác thông dụng hơn như Tử Bình (gọi tắt là Bát tự có 8 chữ, lấy số theo hàng Can và Chi của Năm, Tháng, Ngày và Giờ). Một lý do có thể giải thích là vì sau này họ đã khám phá và thấy được rằng, vận hành của các sao không được chính xác như đã tin tưởng lúc ban đầu!

Những gì được người viết phát hiện và trình bày sau đây cho thấy vài đặc tính khoa học của bộ môn Tử vi. Trần Ðoàn (được coi như ôngTổ sángchế ra Tử vi) hay các vị thầy tiền bối của ông vào khoảng thời nhà Ðường, có thể đã tiến xa hơn và biết khá nhiều về vận hành của các hành tinh. Nhưng tiếc rằng vì các điều kiện thực tế chủ quan về văn hóa xã hội thời bấygiờ, nên họ đã dấu kín và giữ kín bí mật tối đa, nhất là không muốn giải thích hay viết sách để lại lưu truyền cho hậu thế. 

Cung An mệnh. Theo quan niệm về triết lý nhân sinh của Khổng giáo chịu ảnh hưởng ít nhiều đạo Lão, mỗi người sinh ra đều có một số phận được an bài trước gọi là thiên mệnh. Các nhà lý số hay tử vi gia Trung hoa dựa vào lý thuyết trên nên tin rằng, khi một đứa bé vừa sinh ra đời là chịu ảnh hưởng định đoạt cho số phận bởi các tinh tú hiện diện trên trời ngay thời điểm đó. Câu văn nổi tiếng thường nghe là "...sinh ra đời dưới một ngô isao..." phản ánh niềm tin trên. Nói cách khác, khi một đứa trẻ sinh ra đời tại một địa điểm nào trên trái đất, sẽ chịu ảnh hưởng của tất cả các tinh tú chiếu vào ngay tại thời điểm đó, và định đoạt số mệnh luôn cả đời cho đứa bé vừa sinh!

Không phải tự nhiên mà các Tử vi gia (TVG) bày đặt ra cách an mệnh trong Tử vi như sau: Khởi từ cung Dần (hay tháng Giêng) đếm theo chiều thuận (kim đồng hồ) đến tháng sinh, rồi từ đó lại đếm ngược cho tới giờ sinh để an cung mệnh. Dựa vào triết lý số phận cùng cách an cung mệnh cho thấy, các TVG thời đó đã khám phá ra được hai đặ ttính vận hành của trái đất và mặt trời, một đúng và một sai! 

Thứ nhất, đúng là họ đã biết trái đất tự xoay vòng quanh lấy chính nó theo chiều ngược với kim đồng hồ! Trò chơi lồng đèn xoay (còn gọi là đèn kéo quân hay đèn cù) rất thịnh hành vào thời nhà Ðường, cho thấy các TVG lúc bấy giờ có thể đã có khái niệm về trái đất tròn và xoay. Nhưng như đã viết ở trên, họ đã giữ làm bí mật gia truyền, và nhất là sợ nguy hiểm cho chính bản thân và gia đình do quan niệm "Thiên cơ bất khả lậu" hoặc vì những người cầm quyền như Vua Chúa không tin (giống như trường hợp của Gallileo). Một lý do khác là ngay chính các TVG cũng không hiểu và không giải thích được hiện tượng tại sao con người không bị rơi ra ngoài nếu trái đất xoay tròn! Thêm vào, các hiện tượng thiên nhiên như nhật thực hay nguyệt thực, đã tạo cơ hội để các TVG hiểu ánh sáng từ mặt trăng là do từ ánh sáng mặt trời chiếu vào và thỉnh thoảng lại bị trái đất che (cho trường hợp nguyệt thực). Có thể với cách suy luận tầm thường và đơn giản theo lối chứng minh "phản đề" là: Nếu Trái đất nằm yên không xoay, thì dựa vào quan sát hàng ngày cho thấy mặt trời, mặt trăng, năm (5) hành tinh và đa số các tinh tú thấy được, phải "chạy" xung quanh trái đất mỗi ngày một lần! Ðiều này cho thấy hoàn tòan vô lý vì nhờ các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực. Cụ thể như nhờ có hiện tượng nhật thực toàn phần giữa ban ngày, các TVG đã thấy được các ngôi sao và các hành tinh hiện ra, dù trong chốclát. Nghĩa là không phải vào ban ngày, các tinh tú chạy xuống dưới đất rồi đến tối mới hiện lên! 

Thứ hai, các TVG đã hiểu sai khi khám phá ra và tin rằng mặt trời quay chung quanh trái đất mỗi năm một lần theo chiều thuận kim đồng hồ! Nhưng thật là may mắn cho khoa Tử vi, cái sai về lý thuyết lại trở thành đúng trên thựctế! Lý do là nhờ luật tương đối về chuyển động. Nghĩa là nếu các TVG đang đứng trên trái đất nhìn mặt trời, trong khi trá iđất di chuyển xung quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ, thì cũng giống như các TVG đứng trên trái đất nằm yên, và nhìn mặt trời di chuyển xung quanh trái đất theo chiều thuận kim đồng hồ!.

Những bằng chứng trên cho thấy khi an cung mệnh, các TVG đã theo gần đúng nguyên tắc vận hành của trái đất và mặt trời, xác định vị trí tương đối lúc đứa bé sinh ra đời trong thái dương hệ. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh và giải thích rõ ở đây thêm một chút để tránh sự hiểu lầm. Ðúng ra, phần nào là do ảnh hưởng thể xác của người mẹ, do tính di truyền hay phù hợp với môi trường vào thời điểm đó, nên "chuyển bụng" mà sinh ra đứa bé, hơn là do cơ thể đứa bé sinh ra chịu ảnh hưởng của các hành tinh! 

Vòng Tử vi và Thiên Phủ: Coi như quan trọng nhất cho lá số tử vi nên dựa vào tất cả bốn yếu tố là Năm, Tháng, Ngày và Giờ sinh. Nghĩa là chịu ảnh hưởng của Mặt trời, Mặt trăng và năm hành tinh. Theo nhận xét của người viết thì có thể sau khi định vị trí của đứa rẻ khi mới sinh ra đời dựa vào tháng và giờ, các TVG còn dựa vào hai yếu tố sau cùng là vị trí của các hành tinh hay thiên can, và vị trí của Mặt trăng hay ngày sinh. Nhưng làm sao họ biết sao Tử vi phải được an ở đâu dựa vào ngày sinh (?), và đây vẫn còn là một bí ẩn cần được nghiên cứu thêm. Câu trả lời tạm thời là có thể các TVG đã dựa vào quan sát thực nghiệm hình ạng và khuôn mặt của hàng trăm (hay vài ngàn) đứa trẻ trong một thời gian kéo dài cả mấy trăm năm. KhoaTướng số cũng cóthể nhờ đó mà phát sinh ra. Nên nhớ là ngày nay các nhà coi Tử vi chuyên nghiệp cũng cần phải dựa vào hình dạng hay tướng mạo để "điều chỉnh" và kiểm chứng lại trước khi bàn tới lá số của người nào.

Vòng Thái tuế: Trong số những người Việt nổi tiếng một thời nghiên cứu về khoa Tử vi, có thể TVG Thiên lương (bút hiệu) là người đã khám phá ra những yếu tố quan trọng đặc biệt nhất về vòng an sao Thái tuế. Vòng Thái tuế theo quan niệm của nhóm nghiên cứu TVG Thiên Lương, có ảnh hưởng nhiều đến thái độ sống và cách ứng xử của con người đối với xã hội. Tại sao vòng Thái tuế lại đóng một vai trò chính trong khoa Tử vi? Câu trả lời là vì đã dựa vào sao Mộc tinh (Jupiter). Các chiêm tinh gia từ xưa đã quan sát và biết chu kỳ đặc biệt duy nhất gần 12 năm của Mộc tinh trong Thái dương hệ. Nhưng yếu tố chính quan trọng ở đây là họ đã cảm nhận được ảnh hưởng của Mộc tinh đối với các sinh vật đang sống trên trái đất, nhất là con người theo từng năm (bởi vậy nên SaoThái tuế bao giờ cũng an theo năm sinh, nghĩa là sinh năm nào thì an Thái tuế ở ngay cung đó). 

Theo dữ kiện khoa học tìm thấy được, Mộc tinh (Jupiter) hay saoThái tuế có hai đặc tính nổi bật nhất trong Thái dương hệ. Thứ nhất là Hành tinh lớn thứ hai chỉ nhỏ hơn Mặt trời, với đường bán kính trung bình khoảng chừng 70 ngàn cây số (km), gấp 11.2 lần Trái đất. Do đó, lực hấp dẫn (gravity) của Mộc tinh lên Trái đất rất là đáng kể (chỉ sau Mặt trăng quá gần với Trái đất). Thứ hai, và đây mới chính là điều đáng nói, ảnh hưởng từ trường của Mộc tinh mạnh nhiều hơn khoảng 10 lần của Trái đất. Yếu tố sóng từ trường như các phát hiện gần đây cho thấy, ảnh hưởng rất nhiều trên não bộ của con người nhất là cho các trẻ em! Thí dụ cụ thể là cách đây mấy năm, đã xảy ra hiện tượng một số các trẻ em Nhật bị ói mửa và bất tỉnh vì coi một chương trình truyền hình! Hay giới y học càng ngày càng có khuynh hướng tin và công nhận các loại sóng từ trường, từ các dụng cụ điện tử hay các đường dây điện cao thế, có thể gây nguy hại cho não bộ con người nếu hấp thu quá nhiều!

Trở lại chuyện tử vi, theo lý giải của phái TVG Thiên lương nếu người nào an mệnh tại cung có sao Tuế phá, xung chiếu với cung thiên di có sao Thái tuế, thì người đó thường hay bất mãn chống đối, sinh bất phùng thời, v.v. Ðể kiểm chứng hiện tượng trên, người viết chọn một lá số thí dụ để cho cung mệnh có được sao tuế phá: Người tuổi Canh-Thìn (1940), sinh tháng 9, giờ Tý, mệnh an ở cung tuất. Sauđó, dùng cách định vị trí của các hành tinh vào thời điểm nói trên, thì thấy rằng vị trí trên mặt đất vào giờ đó đối diện thẳng với sao Mộctinh, và ở vị trí gần nhất, theo hình vẽ sau: 


Dựa vào hình vẽ trên cho thấy người sinh tháng 9 giờ Tý và người sinh tháng ba giờ Ngọ đều an mệnh tại cung Thìn và có cùng sao Tuế phá tại mệnh. Khác biệt duy nhất của hai trường hợp trên là chỉ có người sinh tháng 9 mới chịu ảnh hưởng hoàn toàn của Tuế phá, trong khi người sinh tháng 3 thì ngược lại không ảnh hưởng tí nào vì nhờ mặt trời che hoàn tòan! Một yếu tố có thể là do ảnh hưởng của sóng từ trường quá nhiều từ mộc tinh, nên não bộ của đứa bé lớn lên sẽ có khuynh hướng phát triển nhiều, thuộc loại thông minh hơn người, và thường đưa đến trường hợp chống đối những chuyện chướng tai gai mắt, nên dễ đưa đến bất mãn vì không hùa theo với người được (trường hợp của Cao Bá Quát trong lịch sử). Mặt khác có thể do thiếu giáo dục và hướng dẫn, dễ kết bè đảng với kẻ xấu (Kiếp, Không, Sát Phá Tham hãm địa) thành tay đạo tặc gian hùng v.v. Nên nhớ là những tay đạo tặc gian hùng có tiếng tăm phần đông đều thuộc loại thông minh hơn người rất nhiều !

Hai hành tinh gần mặt trời nhất cũng có thể làm cơ sở để an một số sao trong Tử vi. Kimtinh (Venus) có chu kỳ 0.61 và quay trở lại vị trí cũ (khoảng chừng 5 vòng) cho mỗi 3 năm tròn của trái đất, nên có một số sao trong Tử vi chỉ an theo ba (3) nhóm gồm: Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ mộ), hay Dần Thân Tỵ Hợi và Tý Ngọ Mão Dậu.

Ðặc biệt Thủy tinh (Mercury) quay quanh mặt trời quá mau, cứ mỗi ba tháng làm 1 vòng, trong khi trái đất cứ ba tháng lại di chuyển một phần tư (1/4) vòng chung quanh mặt trời, nên theo vị trí tương đối của người đứng quan sát từ mặt đất sẽ thấy như Thủy tinh chỉ di chuyển trong 4 vị trí chia đều trên vòng tròn (vì tầm nhìn quan sát bị gián đoạn không liên tục, do vị trí của Thủy tinh quá gần mặt trời). Phải chăng vì vậy mà sao Thiên Mã và một số sao khác chỉ an trong 4 cung thuộc trong 3 nhóm trên (?)

Những gì vừa được trình bày cho thấy mặc dù khoa Tử vi đẩu số không được hoàn hảo và còn nhiều nghi vấn theo tiêu chuẩn khoa học hiện đại, nhưng dám chắc rằng đó chính là biểutượng cho tinh hoa của nền văn minh Ðông phương, một thời rạng rỡ đã qua trong thiên niên kỷ đầu tiên của nhân loại, và hy vọng sẽ có ngày trở lại trong vinh quang của thiên niên kỷ thứ ba này. 

Nguyễn Cường

Sacto 1/ 2003


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguồn gốc của Âm lịch và Tử vi
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd