Giải mã giấc mơ thấy tôm –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Ấn Đường nằm ở vị trí giữa hai đầu lông mày, còn được gọi là cung Mệnh trong 12 cung tướng mặt. Quan sát Ấn Đường có thể nhìn thấy tính cách và vận mệnh của một đời người. Đặc trưng tính cách của người có Ấn Đường đầy đặn Tướng Ấn Đường tốt là phải rộng, đầy đặn, sáng bóng, không khuyết hãm, không có lông mày mọc tràn ra, đồng thời, khi nhìn từ hai phía thì thấy trán nhô nhẹ. Người có Ấn Đường đầy đặn như vậy có lòng bao dung độ lượng, tính cách lạc quan, biết xử lí mọi tình huống khó khăn một cách độc lập, tự chủ do đó thích hợp với những công việc có tính chất xông pha, dẫn đầu phong trào và thường có cuộc sống hạnh phúc, cân bằng cả về công danh sự nghiệp cũng như đời sống hôn nhân gia đình. Đàn ông có Ấn Đường đầy đặn
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Tỉnh Phú Thọ có ba nơi có di tích lịch sử văn hóa về tâm linh rất nổi tiếng, đó là: Đền Hùng ở thành phố Việt Trì, đền Mẫu Âu Cơ ở huyện Hạ Hòa và Đền Lăng Sương tọa lạc trên địa phận xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Đền Lăng Sương nằm trong hệ thống các di tích thờ Tản Viên vùng ven sông Đà và vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ thờ Tản viên Sơn Thánh là một trong bốn vị thần “tứ bất tử” của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam.
Với lòng tôn kính, ngưỡng mộ, nhân dân đã suy tôn Tản Viên là vị thần “Thượng đẳng tối linh”, “Đệ nhất phúc thần” đứng đầu “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng cổ truyền người Việt.
Đền Lăng Sương tự hào là mảnh đất đã sinh ra Thánh Tản. Đây có thể coi là mảnh đất “chôn nhau, cắt rốn” của vị thần linh tiêu biểu của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Cùng với tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản, đền Lăng Sương còn thờ Thánh Mẫu – người có công sinh ra Thánh Tản. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đây đã hòa cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu chung của người Việt như Mẹ Âu Cơ, Đất Mẹ, Mẹ Nước…
Cổng đền có đôi câu đối “Thiên giáng thánh nhân bình bắc địch/ Địa lưu thần tích hiển Nam bang” (tạm dịch: Trời sinh thánh dẹp giặc phương Bắc/ Đất lưu thần tích hiến trời Nam). Và “Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần/ Bả thác long linh giáng hạ trần” (tạm dịch nghĩa: Lăng Sương ngọc sáng, ngọc tinh thần/ Máng dấu rồng thiếng xuống hạ trần).
Đền chính có kiến trúc kiểu chữ công (I) gồm 3 gian đại bái, ống muốn và 3 gian hậu cung. Trong tòa đại bái có xây bệ thờ tượng Cao Sơn và Quý Minh là bộ tướng có công giúp Tản Viên dẹp giặc Thục.
Tòa hậu cung bài trí long ngai thờ Thánh Mẫu Đinh Thị Đen (mẹ của Tản Viên) và thờ đức Thánh Tản. Trong tòa hậu cung còn thờ Thánh phụ Tản Viên là ông Cao Hành, bà dưỡng mẫu (mẹ nuôi) là Ma Thị và công chúa Ngọc Hoa (vợ Tản Viên). Cách khu đến Lăng Sương khoảng 50 mét về phía Đông Bắc, tương truyền có ngôi mộ của Thánh Mẫu nay ở đó đã được xây thành lăng tẩm.
Hàng năm đền Lăng Sương mở lễ hội cổ truyền vào 25 tháng 10 âm lịch (là ngày giỗ Mẫu sinh ra Thánh Tản) và rằm tháng giêng – giỗ chính (là ngày sinh Thánh Tản). Lễ hội đền Lăng Sương là một trong những lễ hội lớn của vùng núi Tản sông Đà và những di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh.
Lễ hội là sự kết hợp giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể hiện còn được bảo tồn trên quê hương đất Tổ. Cùng với các di sản văn hóa khác, vùng đất Lăng Sương là mảnh đất chứa đầy huyền thoại, truyền thuyết với các tục hèm như thả diều, tục kiêng gọi tên húy…
Với những giá trị lịch sử và văn hóa tâm linh sâu sắc, đền Lăng Sương đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 2005.
Di tích đền Lăng Sương đã được lập quy hoạch tổng thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị của các di sản văn hóa. Xây dựng Lăng Sương thành một điểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh phục vụ du khách thập phương và phát triển kinh tế dịch vụ du lịch là hướng đi đúng của huyện Thanh Thủy và điểm đến của du khách thập phương.
Người tuổi Ngọ có trực giác tốt, trong công việc rất quyết đoán, dám làm dám chịu, cũng có thể kinh doanh độc lập. Tuy nhiên, người tuổi Ngọ cũng khá nôn nóng, nếu hợp tác thì khó có thể phát huy được ưu điểm của chính mình. Người này cũng không giỏi xử lý vấn đề nên muốn thành công thì cần có sự giúp đỡ.
![]() |
![]() |
![]() |
Tuổi Tý nên kết hợp làm ăn với tuổi nào?
Người tuổi Sửu nên hợp tác làm ăn với tuổi nào?
Người tuổi Dần nên hợp tác làm ăn với tuổi nào?
Bạn có biết, màu mắt của mỗi người không chỉ là yếu tố nhận dạng mà còn là một yếu tố để đánh giá tính cách hay tài vận của người đó hay không? Bài viết dưới đây của Phong thủy số dành thông tin cho những bạn đang tìm hiểu về Mắt màu nâu có ý nghĩa gì. Mời các bạn cùng tham khảo nhé.

Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại:
+ Nốt ruồi ở gót chân phải có ý nghĩa gi?
+ Răng khểnh có ý nghĩa gì đối với con gái
+ Râu quai nón có ý nghĩa gì?
+ Nốt ruồi trong mắt phải có ý nghĩa gì?
+ Ý nghĩa của việc đeo nhẫn ở các ngón tay
Thực tế nhiều người tìm câu trả lời cho Mắt nâu có ý nghĩa gì đang rất phân vân không biết mắt của mình...màu gì? Nó có thể thiên nâu nhưng lại không hẳn là nâu mà có thể pha thêm thành 1 màu nào đó khác. Nếu bạn muốn biết Mắt màu nâu có ý nghĩa gì thì có thể xác định ở 3 màu nâu như sau:
Màu nâu đen
Màu nâu lục nhạt
Màu nâu
Bạn hãy xem mắt mình thuộc màu nâu nào rồi cùng tìm hiểu Mắt màu nâu có ý nghĩa gì trong phần tiếp theo nhé.
Vì như đã đưa ở trên, mắt màu nâu có thể có nhiều màu nâu khác nhau nên ý nghĩa của từng màu nâu ấy cũng sẽ khác nhau. Mắt nâu có ý nghĩa gì được lý giải như sau:
Với mắt màu nâu đen:
Những người có đôi mắt màu nâu đen thường có khả năng lãnh đạo thiên bẩm. Đây là màu mắt hiếm nhất nên thường họ sẽ là người bí ẩn. Cũng nhiều nghiên cứu tâm lý cho thấy màu mắt này gây thiện cảm, dễ chịu cho người đối diện.
Với mắt màu nâu lục nhạt:
Thực ra để miêu tả màu nâu lục nhạt thì rất khó. Người ta thường gọi là mắt màu hạt dẻ, thay đổi từ xanh sang nâu hoặc trong lòng mắt của họ phân thành 2 màu nâu và xanh lục nhạt riêng biệt.
Vậy Mắt màu nâu có ý nghĩa gì trong trường hợp này? Họ sẽ là người mang vẻ đẹp độc đáo và riêng biệt, thậm chí mỗi người mắt nâu lục nhạt lại có đặc điểm riêng. Họ có xu hướng tự tin, tự phát và độc lập.
Với màu nâu chính:
Đi vào mắt màu nâu chính, không pha thêm màu khác. Họ là những người quyết đoán, tự tin và khá dễ tính. Họ có xu hướng trung thành, dịu dàng và tôn trọng. Tuy vậy họ không phải là người dễ phục tùng người khác. Một nghiên cứu cho thấy những người mắt nâu thường ngủ ít hơn những người mắt sáng hơn, chu kỳ ngắn hơn. Nhưng lại khó thức giấc hơn vào buổi sáng.
Theo một nghiên cứu khác về Mắt nâu có ý nghĩa gì, họ không phân ra các màu nâu như đã kể trên, kết quả cho thấy những người mắt nâu là những người đáng tin cậy nhất. Thậm chí có những nghiên cứu so sánh mắt nâu và mắt xanh dương thì họ chọn người mắt nâu tin cậy hơn người mắt xanh dương rất nhiều.
Mắt của bạn thuộc màu nâu gì? Hãy cùng tìm hiểu và đối chiếu với kết quả Mắt màu nâu có ý nghĩa gì như trên nhé!
Tìm kiếm liên quan: người mắt nâu, mắt nâu có ý nghĩa gì, con gái mắt nâu, mắt nâu đa tình, mắt màu nâu nói lên điều gì, mắt nâu nói lên điều gì, đàn ông mắt nâu,
| ► Mời các bạn xem hướng nhà theo tuổi để không phạm phải đại kị |
![]() |
Trong Phong thủy học, ba yếu tố là Chủ – Môn – Táo ( phòng chủ nhà, bếp, cửa ra vào) luôn là yếu tố đặc biệt cần coi trọng. Những yếu tố này không chỉ đựoc thừa nhận như những yếu tố tiên quyết trong trường phái Dương Trạch Tam Yếu mà trong Huyền không học hay Bát trạch Phong thủy đều dựa vào và coi đó là yếu tố then chốt để luận đoán cát hung trong một căn nhà, hay một đối tuợng xem xét của Khoa Phong thủy. Trong kiến trúc hiện đại, Chủ – Môn- Táo đã có nhiều thay đổi khác trước. Vì vậy mà những quan niệm về Chủ- Môn-Táo trong Phong thủy xưa cũng nên nhìn nhận thấu đáo hơn trước khi ứng dụng cụ thể vào thực tiễn cuộc sống. Bài viết sau đây sẽ xem xét các yếu tố PHÒNG NGỦ, BẾP VÀ HƯỚNG NHÀ trong cái nhìn so sánh giữa Phong thủy cổ truyền và Kiến trúc hiện đại cùng với những biến đổi của Phong thủy trong sự thích nghi với xã hội hiện đại.

Có tới một phần ba cuộc đời con người trôi qua trong giấc ngủ. Giấc ngủ giúp chúng ta nghỉ ngơi, thư giãn và tái tạo lại nguồn năng lượng sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt nhọc. Không chỉ vậy, chiếc giường ngủ trong phòng còn là nơi gắn bó tình cảm vợ chồng nồng ấm, nơi khởi nguồn những giấc mơ nuôi dưỡng tâm hồn mỗi thành viên trong gia đình. Chính vì vậy, cùng với lịch sử của môn Phong thủy từ hơn hai ngàn năm trước, và cho đến cả những năm đầu của thế kỉ thứ 21 vai trò và ý nghĩa của phòng ngủ không hề thay đổi. Nó được coi là yếu tố có quan hệ mật thiết tới sức khỏe của chủ nhân, thậm chí theo các phong thủy gia, nó còn có vai trò nhất định tới hưng, suy, thành, bại của con người. Do vậy việc sắp đặt không gian phòng ngủ luôn được coi trọng là thế để tạo nên một môi trường hoàn hảo cho sự thư giãn tối ưu nhất.
Trong thuật Phong thủy, hướng và vị trí là hai yếu tố quan trọng hàng đầu. Phòng ngủ là không gian cần sự yên lành tất yếu phải tuân theo nguyên tắc bố trí ở những cung tốt và huớng tốt so với bản mệnh của gia chủ hay còn gọi là “tọa cát hướng cát”. Đối với hướng giường ngủ thì hiện nay có hai ý kiến khá khá mâu thuẫn người lấy hướng chân để tính Phong thủy, người chọn hướng đầu để tính cát, tính hung. Tuy nhiên, nếu xem xét toàn bộ cơ thể con người ta thấy rõ ràng ở đầu con ngưới ta luôn tập trung nhiều cơ quan quan trọng. Có thể kể ra như trung khu thần kinh, bách hội huyệt đều là những cơ quan trọng yếu của cơ thể và hệ thần kinh thì ảnh hưởng lớn thế nào đối với giấc ngủ. Do đó, việc nhìn nhận hướng giường trong Phong thủy với phương án tính hướng đầu giường sẽ hợp lý hơn cả.
Trong một ngôi nhà, gian bếp có vai trò rất đáng kể, đó không chỉ nơi diễn ra các hoạt động liên quan đến ăn uống, không gian bếp còn là nơi giao lưu, gặp mặt của các thành viên trong gia đình. Dưới góc độ Phong thuỷ, gian bếp tượng trưng cho tài lộc và cũng là nơi mang dưỡng khí cho gia đình, cổ nhân xưa có câu “Hoạ tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập” nên chuyện ăn uống hay khâu chế biến, nấu nướng mà cụ thể là tổng thể của một gian bếp toàn diện phải được coi trọng dẫu là thời kì nào, chế độ nào đều không đổi. Bếp quan trọng vậy do đó hướng bếp và vị trí bếp là những yếu tố then chốt để cấu thành nên tính của một gian bếp là cát hay hung vậy!
Xã hội hiện đại phát triển, những tri thức mới và công nghệ mới kéo theo nhiều kiểu bếp ra đời. Thơi xa xưa thầy Phong thủy với phuơng thức bếp than bếp củi, họ vẫn tính hướng bếp theo hướng của đường đưa nhiên liệu vào bếp. Có vẻ như tri thức của khoa Phong thủy vẫn chưa theo kịp tiến trình này của xã hội tân tiến. Những lý thuyết về đường đưa nhiên liệu thật khó có thể tìm ra hướng bếp đối với những trường hợp đường dẫn năng lượng là dây ga, nếu đường có uốn éo thì việc xác định đúng là nhiệm vụ bất khả thi. Từ đó khiến cho người muốn tìm hiểu về phong thủy cảm thấy rất lúng túng để tìm ra một hướng bếp đúng đắn cho mình. Một số quan niệm khuyên tính hướng bếp là hướng của nút vặn công tắc ga. Nhưng khi gặp trường hợp nút điều khiển nằm ngay trên mặt bếp hướng thẳng lên trời thì lại chưa tìm được lời giải thích hợp lý.
Để có được lời giải, trước hết chúng ta nên hiểu sự vận hành chính là quá trình nạp khí cho bếp. Trong Phong thủy, sự tương tác vận động, hay giao tiếp giữa con người với khu bếp tạo nên khí, bếp được nạp khí chính là do con người. con người như vật thể sống truyền năng lượng cho căn bếp vậy. Vì vậy có thể coi hướng bếp là hướng nhận thao tác của người nấu, tức là hướng ngược lại với mặt người nấu. Nói cách khác, hướng bếp là hướng lưng của người nấu. Khi đã nắm bắt rõ khái niệm hướng bếp thì cho dù bếp thay đổi đến đâu, có hiện đại đến thế nào, ta vẫn có thể tìm ra hướng một cách dễ dàng.
Trong sách Bát trạch minh cảnh- một tác phẩm kinh điển và coi là sách gối đầu giường của các Thày Phong thủy cho rằng bếp nên “tọa hung hướng cát”, nghĩa là phải đặt ở vị trí xấu và nhìn ra hướng tốt. Tuy nhiên, quan niệm này hiện nay cần phải có những điểu chỉnh cho phù hợp với thời đại.
Từ xa xưa, con người ta thường sử dụng các nhiên liệu như rơm rạ, than, củi để đun nên khu bếp thường là không gian nhiều khói bụi, ô nhiễm. Điều này khiến cho bếp thường được đặt ở những vị trí xấu. Vì lẽ đó lý thuyết phong thủy cho rằng những thứ gì xấu, ô nhiễm nên đặt ở vị trí xấu đối với gia chủ để lấy xấu để chế ngự xấu hay còn gọi là “dĩ độc trị độc”!
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại công nghệ hiện đại và cả thói quen sống nữa khiến cho tính chất khu bếp đã thay đổi không còn như xưa nữa. Khoa học hiện đại và công nghệ tiên tiến đã khiến gian bếp trở nên sạch sẽ, gọn gàng và không còn ô nhiễm như xưa. Chính vì vậy, mà ngày nay bếp nên được đặt ở những phương vị tốt để nghênh đón điều lành sẽ hợp lý hơn, tức là bếp luôn phải “tọa cát hướng cát”. Ngoài ra có thể sử lí đường thoát mùi hay ống thông hơi cho nhà bếp khi thoát ra phía ngoài đặt tại những phương vị xấu hay cuối hướng gió để trừ khử cái xấu.
Khí là một khái niệm đặc thù trong khoa Phong thủy hay những bộ môn khác của nền Văn hóa Phương đông. Phong thủy của một quốc gia người ta đề cập tới khí sông khí núi, phong thủy của một thành phố đặc biệt quan trọng bởi các con đường bởi nó là yếu tố then chốt làm nên cấu trúc của một thành phố cũng như vai trò dẫn khí phân bổ tới từng khu vực trong nội đô, tới ngôi nhà hay từng công trình. Đối với một đối tượng nghiên cứu cụ thể như một ngôi nhà, cửa chính hay còn gọi là Đại môn là không gian giao tiếp đầu tiên, đó là nơi liên hệ giữa hai yếu tố nội và ngoại, ngoài ra nó còn là vai trò then chốt trong việc nạp khí cho ngôi nhà. Ngoài cửa chính các hành lang cầu thang và các cửa phòng, cửa hậu chính là những nơi có nhiệm vụ giúp điều tiết luồng năng lượng trong căn nhà của chúng ta. Vì thế, không thể bàn cãi vai trò cực kì quan trọng của cửa trong một ngôi nhà. Ngoài ra, cửa là một trong những yếu tố giúp định vị hướng nhà một yếu tố tối quan trọng theo Phong thủy cổ truyền.
Kiến trúc hiện đại phát triển lên tầm cao cùng với đó là xu huớng tất yếu của đô thị hóa và loại hình nhà chung cư. Việc xác định hướng cho một ngôi nhà nói chung và căn hộ chung cư nói riêng là một việc cần làm và có ý nghĩa quan trọng theo Phong thủy. Nhiều người cho rằng, hướng của căn hộ chính là hướng cửa sổ, cửa ra ban công nơi có nhiều nắng, gió do khoảng không gian tiếp xúc trực tiếp ngoại cảnh. Qua thực tế và kinh nghiệm cá nhân, cách tính này không chính xác. Những quan niệm trên đã nhầm lẫn khi coi những yếu tố về nắng về gió hay không khí là yếu tố tạo nên “khí” trong Phong thủy. Thực tế không phải vậy. “Khí” được tạo thành bởi sự vận động và tương tác của con người với căn nhà. Một giả định đơn giản cũng chỉ rõ điều này. Nếu chúng ta bịt tất cả cửa sổ, sử dụng cửa chính thì vẫn có thể sinh hoạt được, dù thật bất tiện, khó khăn. Nhưng nếu chúng ta bịt cửa chính thì chắc chắn căn hộ đó không thể vận hành được. Vì vậy, hướng của căn hộ phải được tính bởi hướng cửa ra vào của căn hộ. Phong thủy xưa có câu “Khai môn lập huớng” chính là nói về ý này.
Bên cạnh việc xác định phương vị, thì việc xác định số đo hướng của căn hộ chung cư bằng la bàn là điều mà thực tế khác nhiều so với lý thuyết, đôi khi sử dụng la bàn để đo hướng đối với nhà chung cư lại cho ra những kết quả không dùng được! Nhà chung cư với những đặc thù do kết cấu thường rất nhiều lõi cốt thép với từ tính cao hơn các nhà biệt thự hoặc đất phân nền gấp nhiều lần, do vậy dễ làm sai lệch kim la bàn dẫn đến việc xác định hướng không chính xác. Kinh nghiệm là không chỉ đo ở nhiều vị trí khác nhau, cả ở trong lẫn bên ngoài căn hộ và toà nhà mà những công cụ như bản đồ vệ tinh là những công cụ không thể bỏ qua để quyết xác một thông số đầu vào chính xác.
Trong suy nghĩ của phần đông những người có nhu cầu chọn đất làm nhà hay mua nhà xây sẵn, thường vẫn muốn biết hướng của miếng đất hay căn nhà ấy có hợp với tuổi của mình hay không và đôi khi bỏ qua những yếu tố khác. Với Phong thủy học chân chính đây là một quan niệm khá cứng nhắc. Hướng nhà chỉ là một trong rất nhiều yếu tố cần được quan tâm, xem xét. Bởi lẽ, hướng nhà có tốt nhưng không hay về cấu trúc bên trong, ngoại cảnh hay thời vận không tốt thì căn nhà đó cũng không phải đã chuẩn theo Phong thủy học. Bên cạnh đó, đối với căn nhà hướng nhà xấu thuật Phong thủy luôn có những phương án để hóa giải những bất lợi đó. Chẳng hạn như có thể sắp đặt được hướng bếp, hướng ban thờ, hướng giường ngủ tốt sẽ khắc chế được hướng nhà xấu. Hướng cửa chỉ là một trong ba yếu tố làm nên cái gọi là CHỦ-MÔN-TÁO là những yếu tố cần thiết và tối quan trọng trong Phong thủy. Xấu một thứ ta dùng các thứ khác để hóa giải. Phong thủy gọi là “đa cát chế thiểu hung” hay nói theo nghĩa hiện đại một người xấu chơi với một tập thể tốt… cũng sẽ thành tiến bộ! Rõ ràng trong quá trình chọn lựa nơi định cư không nên vì lý do “không hợp hướng” để rồi kén chọn quá đà mà bỏ lỡ những cơ hội để có một nơi an cư lạc nghiệp.

Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, môn Phong thủy ngày càng gần gũi và cụ thể hơn với cuộc sống con người. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ ứng dụng mà phải biết kế thừa và phát triển bộ môn khoa học cổ xưa này. Những yếu tố cũ kỹ và lạc hậu cần phải loại bỏ đồng thời cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung những kiến thức mới để nâng cao tính ứng dụng của Phong thủy cũng như hoàn thiện hơn cho phù hợp với công nghệ, với thời đại. Phong thủy là một khoa duợc sinh ra trong lòng cuộc sống và vị cuộc sống nên nó cũng biến hóa và phải biến hóa sao cho phù hợp với xã hội. Đó chính tiêu chí lấy bất biến ứng vạn biến của khoa Phong thủy nói riêng và Dịch học nói chung.
Tứ trụ của công chúa nhỏ nước Anh sinh vào lúc 0h34 ngày 2/5

Nhìn vào bảng tứ trụ có thể thấy được cô công chúa hưởng âm đức của ông bà bố mẹ trợ giúp. Thiếu niên dễ thành danh học tập khoa bảng đỗ đạt.
AFP dẫn lời nữ chuyên gia phong thủy người Hong Kong Thierry Chow cho biết. "Nó chỉ ra rằng cô bé sẽ đem lại vận may cho gia đình. Người sinh năm Cừu thường đem lại may mắn cho gia đình." 
Theo âm lịch Trung Quốc, năm 2015 gọi là Yangnian, năm Cừu hoặc năm Dê. Cừu và dê là hai từ đồng âm trong tiếng Trung Quốc.
Mak Ling-ling, nữ thầy bói người Hong Kong, dự đoán công chúa là người có thiên hướng nghệ thuật và tư tưởng phóng khoáng.
"Cô bé có tài năng nghệ thuật và không chịu gò bó. Khác với anh trai mình, người sống khép kín và kỷ luật hơn," Mak nói thêm, nhắc tới Hoàng tử George sắp được hai tuổi, sinh năm Rắn.
Tuy nhiên, cô bé có tính cách độc lập, không muốn bị quản thúc, Mak gửi lời tới Hoàng tử William. "Đó là một cô bé vui tính, không thích sống gò bó. Cô bé thích là chính mình, hơn là tuân theo những luật lệ giáo điều."
Theo bà Chow, công chúa còn là một nhà hùng biện tài ba, và sẽ mang thuận lợi tới cho cha mẹ trong nhiều khía cạnh cuộc sống cũng như công việc, sức khỏe và quan hệ.
Bà Mak cho rằng cô bé sẽ rất tự nhiên trước công chúng. "Cô bé nhìn rất bắt mắt. Ai cũng sẽ dõi theo cô, nhưng cô không sợ xuất hiện trước công chúng. Điều này sẽ có lợi cho hình ảnh hoàng gia."
Dự đoán ý trung nhân của công chúa nhỏ, bà Mak nói "Cô là người nghiêm túc trong chuyện yêu đương. Những chàng trai cao lớn, tuấn tú, yêu mến công chúa sẽ luôn xuất hiện quanh cô. Cô sẽ tìm được người phù hợp sau một vài mối tình."
Công chúa nhỏ nước Anh sinh ngày 2/5 và được đặt tên là Charlotte Elizabeth Diana. Vào thế kỷ 19, Công chúa Charlotte của xứ Wales là người thừa kế ngai vàng nhưng không may qua đời lúc sinh con năm 1817, khi 21 tuổi. Bà kết hôn với Hoàng tử Leopold của Saxe-Coburg-Saalfeld vào ngày 2/5, chính là ngày sinh của Công chúa Charlotte mới chào đời.
Công chúa đứng thứ tư theo thứ tự kế vị ngai vàng, sau ông nội - Thái tử Charles, cha - Hoàng tử William, và anh trai - Hoàng tử George.
Nguồn: Vnexpress
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (##)
Cùng với tranh ảnh, đồng hồ cũng được xem là vật trang trí mang lại nét đẹp tinh tế cho ngôi nhà. Tuy nhiên, khi treo đồng hồ cũng cần lưu ý đến những điều được xem là “không nên” trong phong thủy để có được một tổ ấm hạnh phúc và bình an.
Theo quan niệm của Phong Thủy phương Đông, tất cả đồ vật có thể động thì đều có ảnh hưởng đến Phong Thủy trong nhà. Kim đồng hồ luôn di chuyển không ngừng, vì thế khi bài trí trong nhà cần lưu ý đến mấy điểm sau:
1. Có thể bài trí đồng hồ tại hướng Chu Tước, bởi vì hướng Chu Tước phía trước thuộc di động. Bên cạnh đó, bài trí và treo đồng hồ tại hướng Thanh Long. Theo phong thủy, hướng Thanh Long là hướng cát, vì thế bên trái của phòng có thể treo đồng hồ.
2. Không được treo hoặc bài trí hướng Bạch Hổ, bởi vì hướng này là hướng hung nên bên phải phòng không được treo đồng hồ.
3. Không được bài trí đồng hồ tại hướng Huyền Vũ, bởi vì hướng này là phía sau nên tĩnh không nên động.
4. Phía trên sofa không nên bài trí đồng hồ sẽ dễ gây áp lực về tâm lý cho người ngồi phía dưới.
5. Không nên chọn đồng hồ có góc nhọn hay những hình thù có nhiều sắc cạnh sẽ gây nhiều bất lợi và rối loạn luồng khí tốt khi di chuyển vào nhà.
6. Không nên để mặt đồng hồ quay vào trong nhà mà nên quay ra cửa và ban công. Đồng hồ thuộc động nên khi trong nhà vắng người vẫn có thể khiến căn phòng tràn đầy sức sống.
7. Không nên treo đồng hồ hướng vào những thứ giống hình dáng của nó hoặc hình Bát quái, bài trí như vậy sẽ khiến tinh thần của gia chủ dễ bị ức chế và bực bội.
8. Ở phòng ngủ, kỵ nhất là treo đồng hồ ở đầu giường hay vị trí đối diện với giường ngủ gây nên không khí ảm đạm, buồn bã.
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Mời các bạn: Bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người |
Nội dung
Ngũ hành tồn tại mối quan hệ tương sinh tương khắc.
Quy luật ngũ hành tương sinh: “Sinh”, bao hàm ý nghĩa tư sinh, trợ trưởng. Trong Ngũ hành có quan hệ thúc đẩy lẫn nhau, dựa vào nhau để tồn tại, quan hệ này được gọi là “tương sinh”. Quy luật tương sinh trong Ngũ hành là: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy: sự tuần hoàn đời này qua đời kia không bao giờ kết thúc. Chúng có tác dụng thúc đẩy nhau phát triển.
Trong tương sinh Ngũ hành, bất kỳ một hành nào cùng đều có sự liên hệ hai mặt “sinh tôi”, “tôi sinh”, cũng chính là quan hệ mẫu tử. Lấy Thủy làm ví dụ: “sinh tôi” của Thủy là Kim, tức Kim chính là mẹ của Thủy: “tôi sinh” của Thủy là Mộc, tức Mộc là con của Thủy, từ đó cứ tiếp tục suy ra tương tự.

Nguyên lý ngũ hành tương sinh
Quy luật tương khắc: “khắc”, bao hàm ý nghĩa chế ngự, thắng. Trong Ngũ hành có quan hệ chế ước lẫn nhau, khắc phục lẫn nhau. Loại quan hệ này được gọi là “tương khắc”. Quy luật tương khắc Ngũ hành là: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, sự chế ước lẫn nhau như vậy, không có tuần hoàn, không ngừng.
Quan hệ tương khắc trong trường hợp thông thường, cũng là một lực lượng duy trì cân bằng. Nếu tương khắc Ngũ hành quá lớn thì sẽ gây thương tổn rồi sinh ra những biến hoá bất thường. Trong tương khắc Ngũ hành, bất kỳ một hành nào cũng đều có quan hệ “khắc tôi” và “tôi khắc”, cũng chính là quan hệ “thắng” và “bất thắng”. Lấy ví dụ hành Mộc: “khắc tôi” là Kim, “tôi khắc” là Thổ, vậy thì, Thổ chính là hành mà Mộc “thắng”. Kim chính là hành mà Mộc “bất thắng”, còn lại suy ra tương tự. Trong tương khắc Ngũ hành, cũng giống như tương sinh là không thể tồn tại độc lập. Trong tương khắc cũng cần phải có tương sinh bên trong nó, nếu không thì vạn vật sẽ không thể có sinh khí.
Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.
Loại: Sát Tinh
Đặc Tính: Trở ngại, thất bại, bần hàn, tai nạn, tác hại, gian xảo, kích động
Tên gọi tắt thường gặp: Kiếp
Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Địa Không và Địa Kiếp. Phân loại theo tính chất là Sát Tinh, Hung Tinh.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Cũng là 1 trong 4 sao của cách Hình Riêu Không Kiếp (Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp).
Khi đóng trong cung không có chính tinh gọi là cách hung hoặc sát tinh độc thủ.
Khi có sao Địa Kiếp trong cùng một Cung Tỵ hoặc Cung Hợi gọi là cách Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi.
Khi một trong các Cung Tý, Cung Tuất, Cung Thìn, Cung Ngọ có sao Địa Không thì tại Cung Hợi hoặc Cung Tỵ thuộc cách giáp Không Kiếp.
Đắc Địa: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Hãm Địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất
Ý Nghĩa Địa Kiếp Ở Cung Mệnh:
Tướng Mạo: Sao Địa Kiếp ở Mệnh thì thân hình thô xấu, da kém vẻ tươi nhuận.
Tính Tình: Địa Kiếp đắc địa: Có mưu trí, thâm trầm và lợi hại, rất can đảm, táo bạo, dám nói, dám làm, kín đáo, bí mật, hay giấu diếm, hay suy xét, mưu trí cao thâm, thủ đoạn. Những đặc tính này đúng cho cả phái nam và nữ.
Địa Kiếp hãm địa: Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.
Công Danh Tài Lộc:
Cho dù đắc địa, Địa Kiếp cũng không bảo đảm trọn vẹn và lâu dài công danh và tài lộc. Sự nghiệp sẽ hoạch phát nhưng hoạch phá nghĩa là tiến đạt rất nhanh chóng song tàn lụi cũng lẹ. Uy quyền và tiền bạc phải gặp nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy; nếu có phú quý lớn thì hoặc không hưởng được lâu, hoặc phải có lần phá sản, lụn bại.
Nếu hãm địa, nhất định phải cực kỳ nghèo khổ, vất vả, không có sự nghiệp và sinh kế; đây là hạng vô sản, cùng đinh của xã hội, phải ăn xin độ nhật hoặc phải trộm cướp để nuôi thân.
Địa Kiếp giáp Mệnh cũng liên lụy ít nhiều đến bản thân, công danh, tài lộc như phải vất vả, tha phương lập nghiệp, bị mưu hại, trộm cắp.
Phúc Thọ Tai Họa:
Sao Địa Kiếp hãm địa có tác họa rất mạnh, dù có gặp sao chế giải, hung họa vẫn tiềm tàng, chỉ giảm bớt được ít nhiều chớ không mất hẳn. Có thể nói Địa Kiếp hãm địa làm giảm sự tốt đẹp của cát tinh nhiều hơn là cát tinh làm mất sự hung họa của Địa Kiếp.
Về các chính tinh, chỉ có Tử Vi và Thiên Phủ miếu và vượng địa mới có nhiều hiệc lực đối với Địa Kiếp.
Về các phụ tinh có: Tuần, Triệt, Thiên Giải và Hóa Khoa, là bốn sao tương đối mạnh. Kỳ dư những sao giải khác như Địa Giải, Giải Thần, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Phúc Đức, Thiên Quan, Thiên Phúc .v..v.. không đủ sức chế ngự Địa Kiếp hãm địa.
Đi với võ tinh hãm địa như Sát Phá, Liêm Tham, Địa Kiếp càng tác họa mạnh mẽ thêm gấp bội. Nhưng sát tinh hãm địa khác như Kình, Đà, Linh, Hỏa hay hai sao Tả, Hữu cũng góp phần gây thêm hiểm họa cho Địa Kiếp.
Nếu đắc địa, cuộc đời phải vất vả cực nhọc, tuy tai họa tiềm tàng, nhưng không mấy hung hiểm. Dù sao, phải chịu nhiều cảnh thăng trầm, khi vinh, khi nhục. Nếu gặp phải sát tinh, thì sự phá hoại dễ dàng phát tác mau chóng.
Nếu hãm địa, Địa Kiếp ví như một nghiệp chướng bám vào vận mệnh con người, có ảnh hưởng đa diện và nặng nề, cụ thể như:
Bị tật nguyền vĩnh viễn, bệnh nặng.
Hung họa nhiều và nặng nề.
Nghèo khổ, cô độc, vô sản, phải đi xa làm ăn.
Yểu mạng.
Địa Kiếp đắc địa gặp Tướng, Mã, Khoa: Những sao này thủ Mệnh là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly.
Địa Kiếp đắc địa với phi thường cách: Phi thường cách hoặc gồm Tử, Phủ, Vũ, Tướng đắc địa, hoặc gồm Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ. Đây là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, để danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế.
Địa Kiếp, Tử, Thiên Phủ cùng đắc địa: Gặp phải nhiều bước thăng trầm trong công danh sự nghiệp tài lộc. Nếu Tử, Phủ bị Triệt, Tuần mối hung họa mới hiểm nghèo.
Sao Địa Kiếp với Thiên Hình, ĐàLa, Hỏa Tinh, Linh Tinh: Nếu cùng đắc địa cả thì phú quý được một thời. Nếu cũng hãm địa cả thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu.
Địa Kiếp, Thiên Cơ (hay Hỏa): Bị hỏa tai như cháy nhà, phỏng lửa. Địa Kiếp, Tham Lang đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội.
Địa Kiếp, Trực Phù, Thiên Khốc, Điếu Khách, Cự Môn, Nhật: Cách này biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Phụ Mẫu
Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.
Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Phúc Đức
Trừ phi đắc địa thì hưởng lộc một thời. Địa Kiếp hãm địa chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện, giòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì một bệnh nan y.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Điền Trạch
Nếu đắc địa, có điền sản một dạo, nhưng phải mua đi bán lại luôn.
Nếu hãm địa, vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập ...) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Quan Lộc
Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật.
Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến.
Bị mất chức ít nhất một lần.
Nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi, hoặc phải lên voi xuống chó.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Nô Bộc
Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ.
Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt.
Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Thiên Di
Bị chết xa nhà và chết thảm nhanh chóng.
Bị kẻ thù hãm hại (ám sát, phục kích).
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Tật Ách
Sát tinh này có rất nhiều đặc tính bệnh lý, hầu hết là rất nặng. Nó gây thương tàn cho bộ phận cơ thể đi kèm, dù sao đó chỉ xung chiếu hay bàng chiếu.
Địa Kiếp, Thiên Đồng: Ruột dư phải mổ, hay bệnh thận phải mổ, bệnh mật có sạn.
Địa Kiếp, Đế Vượng: Gãy xương sống, sái xương sống.
Địa Kiếp, Hỷ Thần: Bệnh trĩ kinh niên hay bệnh mụn nhọt lớn ở mông.
Địa Kiếp, Phá Toái: Đau yết hầu, ung thư cổ họng.
Địa Kiếp, Thai: Bào thai chết trong bụng mẹ, mẹ cố ý phá thai.
Địa Kiếp, Kỵ: Ngộ độc bị phục độc.
Địa Kiếp đơn thủ báo hiệu những bệnh sau: Đau phổi nặng như ho lao, ung thư phổi, suyễn. Nếu đắc địa thì ho lâu năm. Bệnh mụn nhọt ghẻ lở nặng và lâu khỏi.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Tài Bạch
Nếu đắc địa thì hoạch phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, oa trữ, buôn bán đồ quốc cấm).
Nếu hãm địa: Vô sản, bần nông.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Tử Tức
Không con, hiếm muộn, ít con, phải ở xa con cái.
Sát con rất nhiều.
Con không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy.
Con phá sản nghiệp cha mẹ.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Phu Thê
Có những ý nghĩa sau:
Sát phu, sát thê, góa bụa bất ngờ.
Có thể không có gia đình.
Nếu có gia đình thì sát hay phải xa cách nhau lâu dài vì tai nạn xảy ra cho một trong hai người.
Phải hai, ba lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Huynh Đệ
Có những ý nghĩa sau:
Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán
Có anh chị em dị bào, có người đau ốm bệnh tật, có tật nguyền, hoặc đoản thọ, chết yểu.
Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Địa Không bấy giờ giáp Mệnh).
Địa Kiếp Khi Vào Các Hạn
Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ, nhưng phải làm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt, hoặc phải đi xa.
Nếu hãm địa, rất nhiều tai nguy về mọi mặt:
Bị bệnh nặng về vật chất và tinh thần (lo buồn).
Bị mất chức, đổi chỗ vì kỷ luật.
Bị hao tài, mắc lừa, mất của, thất tình.
Bị kiện cáo.
Bị chết nếu gốc nhị Hạn xấu.
Nhà bị phạm vào thế “Thiên trảm sát” như bị một thanh đao “trời” chém xuống nhà, đây là thế phong thủy xấu, nguy hại đến tài lộc cũng như sức khỏe của mọi người trong gia đình.
1. Tình huống nhà bị Thiên trảm sát.
Nhà bị “Thiên trảm sát” sẽ khiến cho dòng dương khí bay đến ngôi nhà nhiều hơn. Vì tại khe hở của hai tòa nhà sự lưu thông của không khí rất mạnh, tạo ra nhiều dòng sát khí và dương khí bay đến ngôi nhà. Khi đó người sống trong ngôi nhà mà bị “Thiên trảm sát” sẽ hay nóng tính, hay căng thẳng, hay bị bệnh huyết quang, suy nhược tinh thần, lâu sẽ bị bệnh, thương tật; Đặc biệt là trong công việc hay làm ăn thường làm đến nơi lại bị hỏng, làm được bao nhiêu thì tiền tài lại đi hết bấy nhiều. Công việc hay bị tiểu nhân quẫy nhiễu, ám hại. – Cách hóa giải: ta có thể dùng một loạt các phương pháp để hóa giải: 1. Dùng hệ thống cây cảnh lá kim hay một chậu cây cảnh có tán lá to che chắn trước cửa chính để lá cây có nhiệm vụ tách các hạt khí màu đen ( khí màu đen là loại khí gây hại cho con người) rơi xuống và chỉ để khí trắng bay vào trong nhà ( khí trắng là dòng khí tốt cho con người). 2. Dùng 1 mành hạt tròn treo trước cửa nhà để tách khí đen ( hạt tròn có công dụng tách khí rất tốt) 3. Dùng Gương tiên thiên bát quái ( được khai quang đúng cách, và chọn ngày giờ treo) có tác dụng phóng ra một dòng khí màu xám trắng từ gương theo hình xoắn ốc để tách các dòng khí đen và thanh lọc khí trắng bay vào nhà. 4. Dùng 1 hoăc 1 đôi “long quy” bằng đồng đặt trước cửa nhà để hóa sát khí từ “Thiên trảm sát”: Long quy bằng đồng có kết cấu đầu rồng còn người là rùa, đầu rồng tác dụng trừ hại tiểu nhân, mai rùa có tác dụng hóa sát mà không chống chọi lại tà khí. Do đó dùng long quy tốt hơn dùng sư tử. 5. Dùng Một khối đá Phong thủy ( đá thạch anh là tốt nhất) trấn tại trước cửa chính để năng lương cao và độ khúc xạ lớn của đá phong thủy khúc xạ các tia xạ khí của “Thiên trảm sát”, năng lượng của đá sẽ cân bằng và nâng cao năng lương cho ngôi nhà.( giải pháp này rất hiệu quả trong việc mang lại năng lượng, sức khỏe cũng như tài lộc làm ăn cho mọi người sốngtrong ngôi nhà).
NAM : Cung Khôn, sao La-Hầu, hạn Tam-Kheo và đầu Tam Tai: Người có tài năng đặc biệt, có lập trường vững vàng và nhiều tham vọng. Hạp màu đỏ, rất kỵ màu đen. Chữ “ At” có thể biến thành chữ “ Tân” là khổ. Cuộc đời thường phải sớm tự lập. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Cho nên không còn cách nào khác hơn là phải nỗ lực học hành. Tương lai được xây dựng bằng hiện tại. Sự chuyên cần học hỏi hôm nay là chìa khóa mở rộng cánh cửa sự nghiệp tương lai. Bạn nào sinh mùa Xuân, Hạ thường có đời sống sung túc ổn định.
“At-Hợi cuộc đời sớm lập thân
Tháng ngày học tập thật chuyên cần
Tương lai tươi sáng đường danh lợi
Phước báu gia đình đẹp hôn nhân”
Ở đời có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh tài giỏi tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Chỉ cần tốt nghiệp 4 năm đại học, có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này. Năm nay tốt nghiệp trung học. Cánh cửa đại học mở rộng hứa hẹn một tương lai đầy mới lạ. Tuy nhiên lái xe phải hết sức cẩn thận, đề phòng tai nạn xe cộ rủi ro. Xấu nhất là tháng 1 và 7 âm lịch. Hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại.
NỮ: Cung Khảm, sao Kế-Đô, hạn Thiên-Tinh và đầu Tam Tai: Mẫu người cần cù nhẫn nại, mẫn cán siêng năng, hiền lương, an phận trung thành. Hay giúp người nhưng ít khi được đền đáp. Hạp màu đỏ, rất kỵ màu đen. Chữ “At” có thể biến thành chữ “Tân” là khổ. Bạn nào sinh tháng 6, 8, 10 tình duyên lận đận. Bạn nào sinh tháng 3, 5, 12 thường sống hạnh phúc sang giàu. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Cho nên không còn cách nào khác hơn là phải nỗ lực học hành. Tương lai được xây dựng bằng hiện tại. Sự chuyên cần học hỏi hôm nay là chìa khóa mở rộng cánh cửa sự nghiệp tương lai.
“Tính người mẫn cán chuyên cần
Đền ơn cha mẹ góp phần dựng xây
Trung thành an phận thơ ngây
Qúy nhân giúp đỡ người ngay phước lành”
Ở đời có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh tài giỏi tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Chỉ cần tốt nghiệp 4 năm đại học, có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này. Năm nay tốt nghiệp trung học. Cánh cửa đại học mở rộng hứa hẹn một tương lai mới mẻ. Tuy nhiên lái xe phải hết sức cẩn thận, đề phòng tai nạn xe cộ rủi ro. Xấu nhất là tháng 3, tháng 9 âm lịch. Hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại.
QÚI-HỢI 31 TUỔI: (Sinh từ 13/2/1983 đến 1/2/1984).
Mệnh: Đại Hải thủy (Nước đại dương)
NAM: Cung Cấn, sao Thái-Bạch, hạn Thiên-Tinh và đầu Tam Tai: Mẫu người có chí khí, ham học hỏi, biết nhìn xa nhưng đôi khi ung dung tự tại, chuyện tới đâu hay tới đó, không muốn bon chen. Tuy nhiên nỗ lực học tập đem tài năng cống hiến cho xã hội là điều đáng phải làm. Cưới vợ hợp với tuổi Giáp-Tí (1984), Ất-Sửu (1985), Bính-Dần (1986) và Mậu-Thìn (1988). Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất là Tây Bắc và chánh Tây.
“ Công danh hứa hẹn tràn đầy
Học hành nỗ lực thang mây tiến lần
Ung dung tự tại hưởng phần
Tài năng cống hiến xa gần ngợi khen”
Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm“Tứ Tấn Tài” nên phải tận dụng cơ hội tốt này để xây cất nhà cửa hay cơ sở thương mãi, có thể giúp việc làm ăn thịnh vượng hơn lên. Gia đình có người bệnh hoạn ốm đau hao tài trong tháng 5. Tuy nhiên công việc làm ăn phát đạt thăng tiến. Nhờ đó, tình trạng tài chánh được cải thiện dồi dào, sung túc. Muốn thay đổi chỗ ơ, chỗ làm, hay đi xa xuất ngoại cũng thực hiện được.
NỮ: Cung Đoài, sao Thái-Am, hạn Tam-Kheo và đầu Tam Tai: Mẫu người đoan trang hòa nhã, an phận thủ thường, và cuộc đời ít phải lo lắng. Rất giỏi tề gia nội trợ, trật tự ngăn nắp và biết thương người. Nếu sinh vào các tháng 1, 3, 6, 11 thường may mắn tình duyên, sớm thành sự nghiệp. Tuy nhiên nỗ lực học tập đem tài năng giúp cho gia đình và phục vụ xã hội là điều đáng phải làm. Lấy chồng hạp với tuổi Nhâm-Tuất (1982), Đinh-Tị (1977), Bính-Thìn (1976) và Nhâm-Tí (1972). Cưới hỏi nên chọn ngày giờ tốt trong tháng 3 hay 9, bất luận năm nào. Hướng làm ăn tốt nhất là Tây nam, Đông Bắc và chánh Tây.
“ Mẫu người an phận thủ thường
Hôn nhân hệ trọng nghĩ suy kỹ càng
Đường đời còn quá thênh thang
Học hành đỗ đạt giàu sang mấy hồi”.
Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm“Tứ Tấn Tài” rất tốt cho việc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Bạn nào làm việc phải xử dụng nhiều về computer, nên chú ý chăm sóc mắt nhiều hơn. Muốn thay đổi chỗ ơ, chỗ làm hay đi xa xuất ngoại đều có thể thực hiện được. Nếu muốn sinh con, thì nên có thai sau tháng 6, để đẻ con tuổi Giáp-Ngọ, có thể giúp cha mẹ phát đạt 20 năm.
TÂN-HỢI 43 TUỔI: (Sinh từ 27/1/1971 đến 14/2/1972).
Mệnh: Thoa Xuyến Kim (Vàng làm đồ trang sức).
NAM: Cung Khôn, sao Kế-Đô, hạn Địa-Võng và đầu Tam Tai: Mẫu người thông minh, nhạy bén, có nhiều mưu cơ, đầy tự tin, dũng cảm trước nghịch cảnh. Qúi bạn sanh mùa Thu sớm có công danh. Sinh mùa Xuân Hạ, tình duyên lận đận. Anh chị em cũng khó hợp tác. Tuy nhiên ly hương, hậu vận sẽ hài lòng mãn nguyện. Lấy vợ hợp tuổi Bính-Thìn (1976), Đinh-Tị (1977), Ất-Mão (1975), Kỷ-Dậu (1969), Tân-Dậu (1981), Qúi-Sửu (1973) và Giáp-Dần (1974). Hạp màu vàng, kỵ màu đỏ. Nhà cửa và làm ăn nên chọn hướng Tây và Tây Bắc.
“ Chữ Tân là khổ nhớ ghi
Công danh sự nghiệp tức thì lo xong
Làm trai đáng mặt tu mi
An đền nghĩa trả đường đi còn dài”
Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Nhứt Kiết” nên nếu có ý định xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi, có thể tiến hành được.Việc làm ăn cứ giữ yên như cũ, không nên đầu tư mở rộng. Trong gia đình có người đau ốm bệnh hoạn hay tang chế bà con. Xấu nhứt là tháng 3 và tháng 9. Dự định có con năm nay cũng không có gì trở ngại.
NỮ: Cung Tốn, sao Thái-Dương, hạn Địa-Võng và đầu Tam Tai: Thiếu niên tân khổ, vì vào đời sớm nên ít khi có bằng cấp cao. Tuy nhiên tâm chất đạo đức, hiền lành tử tế tốt bụng, quảng đại dễ tha thứ, hiếu thảo thủy chung, nên chung cuộc cũng được ổn định về gia đạo chồng con. Nhờ đắc nhân tâm, thích nghi được hoàn cảnh nên tài lộc vững bền. Trời Phật cũng bù đắp những thiệt thòi cho bạn bằng một thứ chân hạnh phúc. Lấy chồng hợp với các tuổi Kỷ-Dậu (1969), Đinh-Mùi (1967), Bính-Ngọ (1966), Nhâm-Dần (1962) và Bính-Thân (1956). Hạp màu vàng, kỵ màu đỏ. Hướng làm ăn tốt nhất là chánh Bắc, chánh Nam và Đông Nam.
“ Nhờ đạo đức hiền lành tốt bụng
Dễ thứ tha quảng đại thủy chung
Phật Trời bù đắp tận cùng
Lấy chồng hạnh phúc tương phùng đẹp duyên
Phước phần duyên nợ tiên thiên
Thi ân bố đức tình tiền thong dong.”
Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Nhứt Kiết”: nên nếu có ý định xây dựng nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mại thì có thể thực hiện được. Công việc làm ăn có chiều hướng thuận lợi. Nhờ đó, tình trạng tài chánh được cải thiện sung túc hơn. Tốt nhứt là tháng 6, tháng 10. Con cái thi cử đỗ đạt.
KỶ-HỢI 55 TUỔI: (Sinh từ 8/2/1959) đến 27/1/1960).
Mệnh: Bình Địa Mộc (Cây ở đồng bằng).
NAM: Cung Khôn, sao La-Hầu, hạn Tam-Kheo và đầu Tam Tai: Mẫu người nhiều mưu lược, lanh lợi, mềm mỏng. Đôi khi do dự bất quyết làm mất ý chí và cơ hội tiến thân. Tuy nhiên qúy ông là người biết phụng dưỡng cha mẹ, lo tròn chữ hiếu dạy trong luân thường. Đó là tấm gương sáng cho vợ con noi theo. Hạnh phúc cũng là sự yên ổn của tâm hồn khi ta chu toàn bổn phận. Qúy ông sinh ban ngày vào mùa Hạ thường hưởng vật chất đủ đầy. Hôn nhân hạp với các tuổi Đinh-Mùi (1967), Bính-Thân (1956), Mậu-Thân (1968), Tân-Sửu (1961), Canh-Tí (1960) và Kỷ-Hợi (1959). Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất là chánh Tây và Tây Bắc.
“ Nếu tu, đời đạo vuông tròn
Mẹ cha phụng dưỡng lo tròn đạo con
Luân thường hiếu thảo sắc son
Chu toàn bổn phận phước còn dài lâu
Thiện căn lòng chẳng lo âu
An nhiên tự tại trọn câu hiếu tình”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tứ Tấn Tài” rất tốt cho việc xây cất hay chỉnh trang nhà cửa cũng như cơ sở thương mãi, có thể giúp công việc làm ăn thịnh vượng hơn lên. Trong gia đình có người bệnh hoạn ốm đau hay có tang chế bà con trong tháng 1 hay 7 . Tuy nhiên qúy ông làm công chức sẽ được thăng quan tiến chức. Qúy ông kinh doanh thương mại, tiền vào nhanh như ngựa chạy. Muốn thay đổi chỗ ở, chỗ làm hay đi xa xuất ngoại cũng thực hiện được.
NỮ: Cung Khảm, sao Kế-Đô, hạn Thiên-Tinh và đầu Tam Tai: Người chủ trương triết lý cuộc đời là “ nhàn”, miễn sao sống an nhàn vui vẻ, không thích bon chen. Bản chất lanh lợi và rộng rãi. Qúi bà sinh mùa Thu, Đông thì nhờ chồng, giàu có. “Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sinh. Hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt.” Tướng không tốt nhờ tâm tốt mà sửa. Tâm không tốt, tướng có tốt mấy cũng mất. Bạn vừa đẹp người đẹp nết, làm sao hạnh phúc không đến được? Phụng dưỡng cha mẹ đôi bên, lo tròn chữ hiếu dạy trong luân thường. Đó là chân hạnh phúc, thứ hạnh phúc của một người tìm được sự yên ổn của tâm hồn khi đã chu toàn bổn phận. Hôn nhân hạp với những tuổi Nhâm-Thìn (1952), Đinh-Dậu (1957), Nhâm-Ngọ (1942), Nhâm-Dần (1962) và Bính-Thân (1956). Hướng làm ăn tốt nhất là Đông Nam và chánh Bắc.
“ Đẹp người đẹp nết vẹn toàn
Phước duyên sẽ đến lòng son giữ gìn
Sắc tài trọn vẹn niềm tin
Công danh sự nghiệp hiển vinh một đời”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tứ Tấn Tài”, rất tốt cho việc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Nhờ đó, có thể giúp cho việc làm ăn thăng tiến lên. Gia đình có người bệnh hoạn hay tang chế trong tháng 3, tháng 9. Tuy nhiên qúy bà kinh doanh thương mãi, phát tài phát lộc thịnh vượng. Qúy bà làm công chức cũng được thăng quan tiến chức. Con cái thi cử đỗ đạt. Muốn thay đổi chỗ ở, chỗ làm hay đi xa xuất ngoại đều thực hiện được.
ĐINH-HỢI 67 TUỔI: (Sinh từ 22/1/1947 đến 9/2/1948).
Mệnh: Oc Thượng Thổ (Đất trên nóc nhà).
NAM: Cung Cấn, sao Thái-Bạch, hạn Tán-Tận và đầu Tam Tai: Mẫu người đa năng đa hiệu, có tài năng trên nhiều lãnh vực, năng nỗ, có óc lãnh đạo, có tài chỉ huy, dễ thành công trong những dịch vụ xã hội. Thường quyết định vụ việc nhanh chóng và sáng suốt. Dù muốn dù không cũng thành rường cột của gia đình. Qúy ông sinh tháng 6, 7 và 11 thường hạnh phúc sang giàu. Nhà cửa và kinh doanh tốt nhất trên chánh Tây và Tây Bắc.
“ Làm ăn trôi chảy dễ dàng
Gia đình con cháu đầy đàn vui thay
Vốn người lãnh đạo đa tài
Hậu lai thành đạt trở tay khó gì”
Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Nhứt Kiết” nên nếu có ý định xây cất chỉnh trang nhà cửa, cơ sở thương mãi, có thể thực hiện được. Tháng 5 gia đình có người bệnh hoạn ốm đau hay tang chế. Mọi việc làm ăn cứ giữ nguyên tình trạng cũ, không nên thay đổi. Hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại.
NỮ: Cung Đoài, sao Thái-Am, hạn Hùynh-Tuyền và đầu Tam Tai: Mẫu người rất thông minh tài giỏi, tự tin, đa năng đa hiệu, tốt bụng, nhưng trực tính quyết liệt nên cuộc đời thường phải đối đầu với những khó khăn. Ngọai trừ qúy bà sinh ban ngày vào mùa Thu, Hạ thường được hạnh phúc giàu sang. Nếu sinh nhằm tháng 4, 9 hôn nhân bất trắc, tình trường đắng cay, hạnh phúc không trọn vẹn. Chỉ khi nào phu quân trúng vào tuổi Bính-Tuất (1946), Đinh-Hợi (1947), Kỷ-Sửu (1949) thì mới nhẹ đi phần khổ lụy mà thôi. Làm ăn tốt nhất trên hướng Tây Nam, Đông Bắc và chánh Tây.
“ Duyên số long đong chớ bận lòng
Nợ đời nghịch cảnh trả cho xong
Vượt bao trở ngại khơi nguồn sống
Tự tại cuối đời thỏa ước mong.”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Nhứt Kiết” nên nếu có ý định xây cất hay chỉnh trang nhà cửa hoặc cơ sở thương mãi, có thể thực hiện được. Qúy bà làm việc phải xử dụng nhiều về computer, nên chăm sóc cho mắt nhiều hơn. Năm nay gia đình có hỉ sự trùng phùng như có thêm cháu nội, ngoại. Tuy nhiên hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại.
Nguồn Vietstar
Xin Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo, nếu Quý khách hàng muốn có bài luận giải tử vi đúng của chính mình, xin vui lòng đóng phí ở dịch vụ Xem tử vi trọn đời để được chuyên gia gửi bài luận giải qua địa chỉ email.
Đừng cho rằng chỉ có nơi nào lộn xộn bấn thỉu mới bị ồ nhiễm, phòng bếp tưởng chừng sạch đấy nhưng thực tế luôn có những tên “sát thủ” gây nguy hại sức khỏe. Ngoài ô nhiễm do vi khuấn mà mọi người đều biết ra, trong bếp còn có 3 nhân tố ô nhiễm khác là ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm thị giác và ô nhiễm mùi, mà 3 nhân tố ô nhiễm này thường dễ bị mọi người coi nhẹ.

(1) Giảm ô nhiễm tiếng ồn
Các loại đồ dùng như bát, đĩa, dụng cụ làm bếp khi va chạm đều phát ra tiếng ồn, máy hút mùi khi vận hành, cửa tủ bếp lúc đóng, mở cũng phát ra tiếng động v.v… Những âm thanh đó đều có thể làm chúng ta khó chịu.
Theo tiêu chuẩn nhà nước quy định, tiếng ồn ban ngày ở các khu nhà ở không được vượt quá 50 đề-xi-ben (tiếng nói bình thường khoảng 40-60 đề-xi-ben), giới hạn tiếng ồn trong nhà so với tiêu chuẩn nhỏ hơn 10 đề-xi-ben. Theo tìm hiểu, một phòng bếp không được thiết kế một cách chuyên nghiệp thì tiếng ồn có thể sẽ vượt xa con số tiêu chuẩn này.
Ô nhiễm tiếng ồn quá độ sẽ khiến tai ta khó chịu, xuất hiện tình trạng ù tai, đau tai; tổn hại tâm huyết quản; phân tán sức chú ý, giám hiệu suất làm việc, làm rối loạn hệ thống thần kinh, ngoài ra còn ảnh hưởng đến thị lực.
Đế làm giảm ô nhiễm tiếng ồn đến mức thấp nhất, cần bố trí: giá đựng đồ hợp lý, tiện cho việc xếp đặt đồ dùng; lắp đặt đệm hút âm giảm ồn; theo quy định máy hút mùi khi vận hành tiếng ồn khống chế ở mức 65-68 đề-xi-ben là tốt, cho nên cần chọn dùng sản phẩm vừa đẹp, vừa tiện dụng và vừa không gây ồn.
(2) Loại bỏ ô nhiễm thị giác
Ô nhiễm thị giác chủ yếu là nói đến sự phối màu không đúng và sử dụng ánh sáng không hợp lý làm hại đến mắt người. Do nhiệt độ, màu sắc, nguồn sáng tạo ra những thay đổi về mặt sinh lý con người, người khác nhau có sở thích màu sắc khác nhau. Phòng bếp của người trung niên và người già nên trang trí màu trung tính, trang nhã.
Có chuyên gia y học cho rằng, màu sắc quá mạnh sẽ kích thích cảm quan con người làm cho máu lưu thông quá nhanh, dễ làm cho tim bị căng thẳng; mà màu sắc quá trầm có thể làm giảm tốc độ lưu thông máu, trong thời gian dài dễ làm cho tinh thần người ta trì trệ. Vì vậy hai loại màu này đều không thích hợp với người già và người trung niên.
Chính trang phòng bếp, ngoài việc xem xét đến việc sử dụng màu sắc ra còn phải chú ý đến sử dụng đèn. Rất nhiều người cho rằng, trong phòng bếp cứ có đèn sáng là được. Như vậy thường dễ gây belt cập và hậu quả là trong phòng bếp sẽ hình thành nhiều ảnh có hại cho mắt.
Các chuyên gia góp ý, tốt nhất trong bếp nên bố trí một số nguồn sáng bổ trợ để điều hoà ánh sáng. Trong chỉnh trang, tu sửa bếp không nên dùng nguyên liệu phản quang trên diện tích lớn để tránh gây hoa mắt, chóng mặt.
(3) Giảm ô nhiễm hơi dầu mỡ
Ít khí thể trong bếp có hại nhất định đến sức khoẻ con người, bất luận là hơi dầu mỡ hay khí tự nhiên, khi chúng bay ra đều gây hại cả, đơn giản như hơi dầu mỡ khi xào nấu thức ăn bay lên cũng có hại đến sức khoẻ.
Trong hơi dầu mỡ toả ra khi đun nấu, ngoài ôxít các-bon, khí các-bon-níc và một số vật chất dạng hạt ra còn có thể có một số chất hữu cơ như acrylic acid. Trong đó, acrylic acid có thể gây các chứng đau họng, khô mắt; trong hơi dầu mỡ có một loại chất hoá học mà nếu lượng của nó quá nhiều có thể gây đột biến tế bào, dụ phát bệnh ung thư.
Bếp hiện nay đa số thiết kế theo kiểu mở cửa, nhưng trong quá trình nấu ăn vẫn sinh ra hơi dầu mỡ. Bếp kiểu mở cửa không khí lưu động ở phạm vi khá rộng, máy hút mùi vì thế không thể thải hết được chúng ra ngoài, điều này sẽ gây ô nhiễm hơi dầu mỡ trong bếp và phòng ăn.
Phương pháp làm giảm ô nhiễm hơi dầu mỡ, đầu tiên là tăng cường hệ thống làm sạch không khí trong bếp, thứ hai là cố gắng thay đổi phương thức nấu nướng, cố gắng sử dụng lò vi sóng vào việc quay, hấp và nướng đồ ăn, sử dụng nồi cơm điện để giảm có lửa cháy trong bếp. Bếp kiểu mở muốn hoá giải được ô nhiễm hơi dầu mỡ có thể lắp thêm một lớp chắn kiểu bán mở giữa bàn bếp và máy hút mùi, như vậy có thể thu hút được nhiều hơi dầu mỡ sinh ra trong quá trình đun nấu hơn.
Tuổi Ngọ
Người tuổi Ngọ đặc biệt may mắn về vận tài chính, nên con giáp này tiêu tiền cực kỳ phóng khoáng. Họ cho rằng biết cách tiêu tiền mới có động lực để kiếm tiền. Vậy nên, người cầm tinh con Ngựa sẵn sàng bỏ cả tháng lương để mua món đồ mà họ yêu thích. Hơn nữa, với cá tính của con giáp này, họ đã muốn cái gì thì phải có bằng mọi giá.
Đặc biệt, nếu phải dùng tiền để đạt được mục đích, thì tuyệt đối không phải đắn đó. Tuy nhiên, đó chỉ là với những gì người tuổi Ngọ mong muốn được sở hữu. Trong cuộc sống, họ vẫn hay kỳ kèo, trả giả vì điều mình không ham muốn.
![]() |
Tuổi Thân
Người tuổi Thân thường không coi trọng tiền bạc trong cuộc sống. Họ chỉ xem nó như một công cụ nhỏ để đem lại niềm vui cho cuộc sống. Niềm vui ấy không bền vững, trừ khi chúng ta xây dựng được thế giới nội tâm thanh tịnh. Hơn nữa, người tuổi Thân dễ bị tác động bằng lời mời chào hay lôi kéo, nên họ có thể mang về một núi đồ đạc dù chỉ đi dạo.
Với tính cách ấy, con giáp này bị gán cho mác hoang phí. Đặc biệt vào lúc tâm trạng buồn, họ sẽ liên tục suy nghĩ phải mua gì để bù đắp vào chỗ trống trải ấy. Vậy nên, dù có phải bỏ ra hết số tiền tiết kiệm, con giáp này cũng chẳng đắn đo.
![]() |
Tuổi Thìn
Người tuổi Thìn sinh ra đã thích “sang chảnh”. Họ luôn tạo hình hình ảnh của bản thân cũng như cuộc sống phải xứng đáng với đẳng cấp. Dù còn thiếu thốn, con giáp này vẫn cố chạy vạy để thấy tự tin về ngoại hình của mình khi xuất hiện trước đám đông.
Việc tiêu tiền của người cầm tinh con Rồng sẽ khiến bạn kinh ngạc. Họ thích gì mua nấy, thậm chí chẳng cần xác định mục đích của món đồ. Con giáp này sẵn sàng bỏ chúng nếu bị ai đó nhận xét không hay và tìm mọi cách để có đủ tiền sắm đồ mới. Mặt khác, họ rất chăm chỉ, nhạy bén với các cơ hội làm ra tiền của.
![]() |
![]() |
Top 4 con giáp có số làm đại gia |
Mr.Bull (theo SH)
![]() |
![]() |
| ► Bói nốt ruồi biết số mệnh, vận hạn chuẩn xác |
Bật mí thú vị ít biết về nốt ruồi ở cằm nam giới
Quán quân: Cô nàng tuổi Tỵ
Không chỉ quan tâm, chăm chút cho vẻ ngoài của mình, các nàng tuổi Tỵ còn vô cùng chú ý tới diện mạo bảnh bao của các chàng trai.
![]() |
Con giáp này có thể dành hàng giờ đồng hồ để tám chuyện về vẻ điển trai, lịch lãm của các ngôi sao nổi tiếng, hay chỉ đơn giản là anh chàng phong độ của lớp bên cạnh. Chỉ cần nhìn thấy trai đẹp từ xa, cô nàng tuổi Tỵ mắt sẽ long lanh hướng ánh nhìn vào chàng mà quên hết mọi thứ xung quanh.
Á quân: Cô nàng tuổi Mão
Không kém phần mê trai đẹp như người tuổi Tỵ, con gái tuổi Mão còn treo hàng loạt ảnh các anh chàng hot boy có ngoại hình cuốn hút trong phòng của mình để ngắm hàng ngày.
![]() |
Điều đó giải thích lý do tại sao hầu hết những bộ phim yêu thích của cô nàng tuổi mão đều thuộc tuýp phim Hàn Quốc trai xinh, gái đẹp.
No3: Cô nàng tuổi Ngọ
So với hai đối thủ nặng ký về mức độ mê trai đẹp phía trên, cô nàng tuổi Ngọ còn tỏ vẻ thích ra mặt mỗi khi đề cập tới mẽ ngoài của các chàng.
![]() |
Họ không tỏ vẻ xấu hổ hay ngại ngùng khi bàn tán tới vẻ ngoài, thậm chí cả đời tư của những anh chàng điển trai. Con giáp này coi đó là một trong những vấn đề cần lưu tâm hàng đầu khi chọn nửa kia cho mình.
Mr.Bull (theo Dyxz)
Cuộc sống
Cuộc sống của Nhâm Thân khá là vất vả, từ nhỏ đã phải chịu cảnh ba chìm, bày nổi. Tinh thần tự lập cao, không muốn dựa dẫm vào gia đình, tự thân lập nghiệp vì thế nên có phần vất vả, lao đao lận đận, tuy nhiên sang trung vận thì cuộc sống đầy đủ, sung túc hơn mọi người khác, do có sự phấn đấu nỗ lực từ những năm tháng trước đó.
Tóm lại: Tuổi thơ của người Nhâm Thân phải trải qua nhiều khó khăn vất vả, từ 30 tuổi trở đi mới được hưởng cuộc sống an nhàn sung sướng. Theo tướng số thì nam Nhâm Thân có số mạng tốt, cuộc đời có gian khổ những rồi cũng được hưởng sung sướng, ít khi bị đau bệnh. Đường công danh và sự nghiệp cũng khá tốt.
Tuổi thọ trung bình từ 38 đến 48 là mức tối đa, nếu muốn gia tăng thêm tuổi thọ thì cần phải tích thêm đức ở đời.
Tình duyên
Chuyện tình duyên của Nhâm Thìn cũng không được suôn sẻ, ngay từ ban đầu đã gặp phải nhiều khó khăn và trở ngại, cần phải kiên trì và nhẫn nại thì mới giành được hạnh phúc cho bản thân. Tuy nhiên theo chiêm tinh, tướng số dựa trên ngày sinh thì được chi là ba trường hợp chính như sau:
Nếu sinh vào những tháng: 5, 6 và 9 Âm lịch, thì trong cuộc đời sẽ trải qua ba lần thay đổi về vấn đề tình duyên.
Còn sinh phải các tháng này 1, 2, 7, 10, 11 và 12 Âm lịch, thì cuộc sống hôn nhân và hạnh phúc sẽ có hai lần thay đổi.
Sinh vào các tháng 3, 4 và 8 Âm lịch, thì được hưởng cuộc sống hôn nhân trọn vẹn, không có sự thay đổi nào trong suốt cuộc đời.
Phần gia đạo và công danh
Công danh sẽ được lên cao trên con đường học vấn tuy nhiên không tồn tại được lâu. Gia đạo không được vui vẻ phải qua tuổi 30 thì tình hình mới được cải thiện; đến khi qua tuổi 38 hay 37 thì mới được sum vầy, và mọi chuyện được tốt đẹp.
Tiền tài tốt đẹp, cuộc sống sung túc, tuy nhiên cần biết điểm dừng và tự thỏa mãn bởi tiền càng nhiều thì cuộc đời của bạn sẽ gặp sóng càng to. Tuổi 40 trở lên, thì sự nghiệp được hoàn thành vững chắc.
Tuổi hợp làm ăn
Trong vấn đề làm ăn giao dịch, bạn nên cẩn thận trong việc chọn người để cùng hợp tác tính chuyện lâu dài, nên chọn những tuổi hợp với vận mệnh của mình thì mới mong mọi chuyện được suôn sẻ, có được thành công, không lo vướng phải thất bại. Nên kết hôn với các tuổi: Nhâm Thân cùng tuổi, Giáp Tuất và Mậu Dần, hợp tác làm ăn với 3 tuổi này nhất định sẽ có thắng lợi lớn về tài lộc.
Chọn tuổi kết hôn
Việc hôn nhân là công việc quan trọng, đại sự của một đời người, có liên quan mật thiết đến chất lượng của cuộc sống sau này. Chính vì thế nên chọn người hợp mệnh, tránh tuổi xung khắc để đưa cuộc sống đi lên.
Những tuổi hợp với Nhâm Thân không chỉ về công danh sự nghiệp mà còn tốt về đường tình duyên như: Canh Thân, Mậu Dần, Canh Thìn, kết hôn với những tuổi này cuộc sống hôn nhân của bạn chắc chắn sẽ có được hạnh phúc, yên ấm, con cái đủ đầy, do tuổi của hai người rất hợp về tình duyên, thêm vào đó lại hợp về công danh làm cho cuộc sống được nâng lên rất nhiều, có giàu sang, phú quý, của ăn của để.
Nếu Nhâm Thân mà lấy vợ thuộc một trong các tuổi: Đinh Sửu, Tân Tỵ, Tân Mùi, Kỷ Tỵ, thì sẽ có với nhau một cuộc sống yên ấm với mức sống trung bình có nghĩa là đủ ăn đủ mặc, chứ không có dư dả bới hai người chỉ hợp với nhau về tình duyên chứ không thuận về tài lộc.
Nên tránh kết hôn với các tuổi: Quý Dậu, Kỷ Mão, Ất Dậu, đây là những tuổi mà nếu bạn kết duyên thì sẽ tạo thêm nhiều khó khăn cho cuộc sống, lâm vào cảnh nghèo khổ, túng quẫn suốt đời.
Tuổi: 16, 22, 28, 34, 40, 46 và 52 tuổi, là những tuổi mà Nhâm Thân không nên tính tới chuyện hôn nhân, vì rất dễ vướng phải cảnh chia lìa, xa vắng triền miên.
Tuổi đại kỵ
Với các tuổi như: Ất Hợi, Bính Tý, Nhâm Ngọ, Đinh Hợi, Mậu Tý, Canh Ngọ và Giáp Tý. Thì tuyệt đối không nên tính tới chuyện hôn nhân hay hùn hợp vốn làm ăn. Có kết hôn với những tuổi này thì cũng chỉ thu được cuộc sống nghèo khổ thâm chị còn lâm vào cảnh biệt ly hay tuyệt mạng, nếu muốn cùng nhau xây dựng hạnh phúc thì chớ nên thực hiện lễ cưới hỏi linh đình mà chỉ âm thầm về ở với nhau mới mong tránh được tai họa.
Trong việc làm ăn kinh doanh, bắt tay làm ăn với những tuổi này thì chỉ có gặp thất bại khó mà thành công được cho nên tránh xa là tốt hơn cả.
Những năm khó khăn nhất trong cuộc đời
Theo tử vi tướng số thì các năm: 25, 28, 36 và 42 tuổi, được xem là những năm khó khăn nhất trong cuộc đời của người Nhâm Thân, thời gian này bạn nên chuẩn bị đối diện với mọi chuyện đau buồn, và thất bại trong cuộc sống có thể xảy ra bất cứ lúc nào, thậm chí còn có thể tự mang vạ vào thân. Cho nên cần đề phòng cẩn thận và giữ gìn sức khỏe thật là tốt.
Ngày giờ tốt để xuất hành
Nhâm Thân nếu chọn giờ lẻ, ngày lẻ và tháng lẻ để xuất hành thì cực kỳ tốt, xuất hành để tính chuyện làm ăn hay thực hiện quan trọng vào những khung giờ kể trên thì nhất định sẽ thu được thắng lợi lớn, mọi việc sẽ được suôn sẻ và may mắn. Chỉ có thành công và không lo gặp phải thất bại.
Diến biến từng năm trong cuộc đời
- Từ 25 đến 30 tuổi: Năm 25 tuổi, tháng 1, 2, và 3 Âm lịch, không được tốt, nhưng vào tháng 8 và 9 lại tốt, công việc làm ăn được khá. Năm 26 tuổi, tháng 8 và 9 Âm lịch, có nhiều triển vọng tốt đẹp về tình cảm và tài lộc. Năm 27 tuổi, có cơ hội để gây dựng cuộc sống hạnh phúc, giàu sang phú quý, gia đình được yên vui. Năm 28 tuổi, rất tốt, cuộc sống an nhàn sung sướng cả về tinh thần lẫn vật chất.
- Từ 31 đến 35 tuổi: Tuổi 31 mặc dù là năm hạn nhưng cũng khá tốt, công việc làm ăn được phấn chấn, làm một được mười đó là năm vượng phát về tài lộc, chỉ trừ tháng 8 có hao tài đôi chút. Năm 32 và 33, hai năm liên tục, tài lộc điều hòa, không có thất bại trong nghề nghiệp, hay hao tài tốn của. Năm 34 và 35, không được tốt lắm, nhưng công việc làm ăn cũng như vấn đề tiền bạc chỉ ở trong mức độ bình thường.
- Từ 36 đến 40 tuổi: Năm 36 tuổi, năm thuận lợi cho công việc làm ăn, tính chuyện làm ăn trong năm này nhất định thu được thành công. Năm 37 và 38, cuộc sống chỉ ở mức độ trung bình mà thôi. Năm 39 và 40, tài lộc vượng phát, con cái thuận lợi về đường công danh.
- Từ 41 đến 45 tuổi: nhìn chung thì mọi việc đều bình thường, chỉ trừ có những khoảng thời gian bản bị suy yếu đó là vào năm 42 , sang năm 43 tuổi, thòi mọi sự lại phát triển bình. 44 tuổi thì có chuyện buồn trong gia đạo.
- Từ 46 đến 50 tuổi: có được nhiều may mắn trong cuộc sống, thu được nhiều kết quả tốt đẹp về tài lộc, con cháu sum vầy, không có thêm biến động gì xảy ra.
Trong cuộc sống hối hả này, bạn đã bao giờ cảm thấy tâm của mình mệt mỏi và dường như thiếu thiếu một chút gì đó, cho dù của cải vật chất của bạn lại thừa thãi chưa? Hãy tĩnh tâm và suy nghĩ xem, cả đời người ngắn ngủi này, điều bạn mong muốn nhất có phải là thứ mà bạn đang theo đuổi không? Chúng ta chẳng phải vẫn nói, thấy đủ thì thường vui sao? Trạng thái này chính là chúng ta vui với sự giàu có, dồi dào của tâm mình, tinh thần của mình. Cho dù chúng ta không có nhiều của cải, thu nhập cũng không cao nhưng tâm của chúng ta lại không có vướng bận. Con người, ai cũng đều là có suy nghĩ, tư tưởng, nếu tư tưởng giàu có thì đó mới thực sự là người giàu có.
Cùng Lịch Vạn Niên 365 trải nghiệm một số ứng dụng !
Xem bói cuộc đời của bạn !
Xem tử vi hàng ngày !
Người ta nói rằng, cuộc đời người chỉ có ba ngày. Người mê muội sẽ sống ở ngày hôm qua, sống trong quá khứ. Người hy vọng sẽ sống ở ngày mai và chỉ có người thấu hiểu mới sống ở ngày hôm nay, sống với hiện tại. Ngày hôm qua đã qua đi, là tấm chi phiếu đã hết hạn, ngày mai còn chưa tới, là tấm chi phiếu chưa thể rút. Cho nên, chỉ có sống ở ngày hôm nay mới là thực tại nhất. Đời người chẳng qua chỉ là một hồi đến và đi, là đến để kết duyên, nên không cần quá so đo tính toán mà khiến bản thân phải bất bình, tức giận. Cổ ngữ có câu: “Đời người sống chẳng đến trăm năm mà lại thường mang nỗi lo ngàn năm. Trăm sự đều theo tâm mà biến đổi, một nụ cười có thể giải ngàn nỗi u sầu.” Nếu như nghĩ rằng mỗi người chúng ta đều là những vị khách qua đường vội vội vàng vàng, chỉ bất quá là đến thế gian một chuyến thì những việc nhỏ nhặt ấy có đáng giá gì mà phải so đo?
Sống đơn giản không khó, hết thảy là do bản thân mình mà thôi. Khi nhu cầu của con người càng ít thì tự do sẽ càng nhiều, xa hoa càng ít thì thoải mái càng nhiều. “Nhiều một phần vui vẻ thì sẽ ít một phần ưu buồn”, “nhiều một phần chân thật thì sẽ ít một phần dối trá”, “nhiều một phần thong dong thì sẽ ít một phần vội vã”. Một khi có những quan niệm này thì chúng ta sẽ sống được nhẹ nhàng và khoan khoái trong tâm. Những người lớn tuổi thường có thể tự chủ an bài được cuộc sống của mình, đối xử tốt với bản thân, như vậy nội tâm sẽ giàu có và dồi dào.
Trong cuộc sống, nhất định cần để cho lòng mình được thong dong, thảnh thơi, đừng để “thân bận, tâm loạn” mà hãy để cho “thân bận mà tâm nhàn”. Học cách thay đổi một chút thái độ của mình để đi thích ứng với những tình huống khác nhau xảy ra trong cuộc sống, có như vậy bạn mới tự chủ và không bị đau thương, chán nản. Một khi trong tâm nhẹ nhàng, trong lòng đơn giản thì mới có thể thưởng thức và hưởng thụ những điều tốt đẹp của cuộc sống quanh mình. Trong thế giới trần tục này, có nhiều lắm những niềm vui, nỗi buồn, những nỗi bi thương, vui sướng và những phiền não. Cũng bởi vì đời người có những hỉ nộ ái ố đó mới có thể giúp con người ngộ ra rằng biết đủ thường sẽ vui. Một khi trong tâm người ta bằng lòng với số mệnh của mình thì cả đời sẽ sống được thoải mái, hân hoan, vui vẻ tựa như Thần tiên!
Bài viết chép lại từ cuốn Tử Vi Khảo Luận của hai tác giả Hoàng Thường và Hàm Chương
Khoa tử vi phương Ðông dựa trên tư tưởng cổ đại từ thời Tống Nho bên Trung hoa. Theo tư tưởng đó, trời đất lúc đầu là Thái Cực chỉ có một khí, sau khi chia làm hai khí âm và khí dương.
Ân dương biến hóa sinh ra vạn vật.
Vạn vật nằm trong mối liên hệ tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau vô cùng mật thiết, biến dịch không ngừng, chuyển hóa lẫn nhau theo những chu kỳ nhất định.
Vạn vật (Thiên Ðịa Nhân) do năm chất cơ bản tạo thành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Năm chất này được gọi là Ngũ Hành tác động qua lại với nhau có khi hỗ trợ, tạo dựng cho nhau thì gọi là tương sinh, có khi triệt tiêu nhau gọi là tương khắc. Con người là một thành phần trong vạn vật. Trong quá trình sinh thành và phát triển của mình, con người chịu sự tác động từng giờ từng phút của mọi yếu tốt khác nhau và chính mình cũng tác động trở lại yếu tố đó. Mối liên hệ mật thiết này nẩy sinh từ lúc thụ thai trong bụng mẹ vì thế phương Ðông người ta thường cộng thêm một buổi vào năm sinh và ta quen gọi là tuổi ta, tuổi mụ.
Ðạo sĩ Trần Ðoàn, tôn danh là Hi Di sống thời mạt Ðường, tiền Tống bên Trung Hoa, đã theo tư tưởng Triết học cổ đại (kinh Dịch) soạn ra khoa Tử vi. Tiên sinh dùng các sao để nhân cách hóa các hoàn cảnh cuộc sống để đoán vận mệnh con người. Truyền thuyết nói rằng ông thọ 118 tuổi, không vợ không con, chỉ tu tiên học đạo trên núi Hi Di và rất giỏi môn toán học.
Khi soạn cuốn Tử vi khảo luận này, vì cần có cảm thông triệt để giữa người đọc và người viết, chúng tôi dành phần đầu để giải nghĩa ngắn gọn các danh từ thường dùng vì danh có chính thì ngôn mới thuận.
Mở bất cứ cuốn Tử vi nào cũng thấy nói ngay đến những từ như Cục, Mệnh, Thân, Hành, rồi lại Can, Chi, tới Âm Dương sinh, khắc mà không kèm lời định nghĩa các danh từ khó hiểu.
Thí dụ câu sau đây: “Mệnh của đương số khắc với cục nên sinh ra bế tắc”
Phải hiểu Mệnh là gì Cục là gì. Tại sao hai số này khắc lại gây ra sự bế tắc cho đương số? Chừng nào chưa có sự thấu đáo về định nghĩa các từ thì không có sự cảm thông giữa người viết và quý bạn.
Tử vi là khoa đẩu số Ðông phương dùng vào việc dự đoán số mệnh con người dựa trên nguyên lý âm dương, ngũ hành.
Thoát thai từ Kinh Dịch, tổ sư Trần Ðoàn biến các số lượng âm dương của các hào quẻ thành các sao tượng trưng tính chất thăng giáng tốt xấu, các cách cư xử đúng sai của đương số trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Những người nghiên cứu Tử vi thường đa số đứng tuổi, có một học thức trên mức canh bản và cũng rất thận trọng trước khi bước vào con đường khó khăn nhưng cũng nhiều hứng thú này.
Lý đoán số mệnh có thể dựa trên những dữ kiện cố định hay tình cờ, có thể bằng trực giác hay luận giải. Khoa Tử vi, một khoa học thực dụng để lý đoán số mệnh, được gọi là chính xác nhất vì đã dựa vào các dữ kiện thời gian tức năm, tháng, ngày, giờ sinh.
Các dữ kiện này ngoài việc những yếu tố cần và đủ để thiết lập lá số, còn làm nổi bật tính cách đặc thù của mỗi cá nhân, trình bày được những bản năng tiềm ẩn của từng người và dự đoán được vòng thịnh suy của cuộc đời họ nữa.
Là một tài liệu ghi chép các dữ liệu năm, tháng, ngày, giờ sinh cùng tên họ đương số. Trên lá số có an các sao dùng để lý đoán số mệnh.
Lá số có hai phần:
Trên Thiên bàn và Ðịa bàn ngoài các sao còn ghi Can Chi và Ngũ hành.
Ông thầy đoán số Tử vi coi tổng quát lá số, lý giải lá số và chỉ rõ cho người xem số những hoàn cảnh, những vận hạn và nhân đó chỉ cho người này xử trí các biến cố. Gọi là xử trí chứ không chỉ được cách tránh các biến cố, chỉ đối xử sao cho các biến cố không tác hại quá đến đương số. Sau đó mỗi khi gặp những trường hợp khó xử, người xem lại tới hỏi thầy cách xử trí trong hoàn cảnh mới. Xem như vậy, lá số là một nhịp cầu liên lạc giữa thầy đoán số và người xem số, cũng như giữa Bác sĩ và bệnh nhân vậy.
Ðược tính theo âm lịch. Nếu không biết tính ngày giờ Âm lịch thì dựa vào cuốn lịch Thế kỷ hay theo các đĩa vi tính an sao làm để sẵn để chuyển đổi tử dương lịch sang âm lịch.
Thí dụ năm 1957 dương lịch là năm Ðinh Dậu của âm lịch.
Năm 1968 là năm Mậu Thân, năm 1975 là năm Ất mão âm lịch, năm 2003 là năm Quí Mùi.
Còn gọi là Tinh, là Diệu, là Ðẩu. Thi dụ: Cung vô chính diệu là cung không có chính tinh, Nam đẩu tinh, Bắc đẩu tinh là các sao phương Nam và phương Bắc. Các sao này không phải là sao trên trời mà là các danh xưng nói lên các ý nghĩa về phúc, họa, giầu, nghèo, sang, hèn, và các hoàn cảnh con người kinh qua trong suốt cuộc đời.
Trong Hệ từ truyện (Kinh Dịch), khi bàn về Thiên văn, có viết rằng: “Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến” (ngắn tượng trời đất để xét sự thay đổi thời tiết).
Theo Nghệ Văn Chí thì khoa Thiên văn thời cổ dùng để xếp đặt thứ tự của 28 ngôi sao (thực ra là 28 chòm sao) trên bầu trời, đặt mối liên hệ về vị trí của chúng trên đường Hoàng đạo tương ứng với sự thay đổi khí hậu, qua đó suy ra tính cát hung của các sao. Căn cứ vào đó các vua chúa ngày xưa điều khiển chính sự.
Các chòm sao trên được chia theo bốn hướng Ðông Tây Nam Bắc theo Hà đồ và Âm Dương:
Như thế, việc xem Thiên văn lúc đầu là coi sự di chuyển của các tinh đẩu để đoán vận nước tốt xấu giúp cho các vua chúa trị nước an dân chứ không dùng vào bốc phệ cũng như dự đoán tương lai các cá nhân.
Số sao Trần Ðoàn tiên sinh dùng trong khoa Tử vi lại có khoảng 128 vị (2 lần 64 quẻ Dịch) để an trong các lá số nhưng chỉ có 110 sao là thông dụng thôi. Các sao Trần Ðoàn dùng chỉ có tính cách tượng trưng không phải là các sao ta thấy trên bầu trời hàng đêm.
Cách phân loại các sao cũng khác nhau, nhưng đại thể thì chia ra chính tinh, trung tinh, phụ tinh, phúc tinh, hung tinh, sát tinh, tài tinh. Gọi cách nào cho tới nay thì tùy theo ý thích của từng người.
Ta chưa có bản danh từ thống nhất về khoa Tử vi.
Thí dụ một cách gọi: Tử vi là chính tinh, Tả, Hữu là trợ tinh, Không Kiếp là sát tinh, Thiên Ðồng là phúc tinh, Thiên Khôi là quí tinh.
Tuổi âm lịch được thành lập bằng hai yếu tố: Can và Chi.
Can nghĩa là gốc, tức là những gì trời cho ta khi ta chào đời, những gì đã được định sẵn không thêm không bớt, hay thì ta được nhờ, dở thì ta phải chịu.
Chi nghĩa là cành, tức là vùng đất ta rơi vào khi sinh ra, vùng đất có hoa màu nuôi nấng ta, vùng đất sau này ta có thể canh tác để nuôi thân, nghĩa là bản thân ta có thể sửa sang lại để cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Muốn có tuổi âm lịch, ta ghép một can với một chi như: Giáp Tí, Giáp là can và Tí là chi; Ất là can và Sửu là chi.
Âm dương là hai cực mâu thuẫn, đấu tranh, tương phản nhau, nhưng lại nương tựa vào nhau. Không có gì hoàn toàn Dương hay hoàn toàn Âm. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Âm đẩy Âm, Dương đẩy Dương, Âm hấy dẫn Dương, Dương thu hút Âm.
Dương giáng, Âm thăng, những gì Dương thì dáng xuống, những gì Âm thì thăng lên. Qui luật Dương giáng Âm thăng có ý nghĩa to lớn trong triết lý cuộc sống. Âm thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy. Khi Âm tiêu tán thì Dương xuất hiện, lúc Dương đạt cực thịnh thì Âm sinh ra.
Nói tóm lại, Âm Dương là khái niệm về hai cái đối nghịch trên thế gian và cuộc sống ngày như ngày và đêm, nóng và lạnh, cao và thấp, vui và buồn, mạnh và yếu, thịnh và suy, phúc và họa. Âm dương luôn luôn cọ sát, đun đẩy, chờ đợi nhau để sinh ra sự sống, như hình ảnh cái bễ lò rèn, ống bễ trên này ép xuống thì ống bễ bên kia đẩy lên, lên xuống liên tục tạo ra sức thổi làm than cháy đỏ. Phúc họa nằm sẵn trong nhau, mạnh yếu chỉ là tương đối, thịnh suy chỉ là giai đoạn… tất cả chỉ xoay quanh nhịp biến đổi tuần hoàn của Âm Dương mà thôi.
Trong 12 cung của một lá số thì các cung Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là cung dương, các cung Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là cung âm.
Âm dương được gọi là thuận lý:
- Khi người dương nam hay dương nữ có Mệnh đóng tại cung dương, khi người âm nam hay âm nữ có Mệnh đóng tại cung âm.
Thí dụ: Người nam tuổi Giáp Thân (Giáp dương), Mệnh đóng tại cung Tí (dương)
Người nữ tuổi Ất Sửu, Ất (âm), Mệnh đóng tại cung Mão (âm)
Tuy nhiên nếu người nam, Mệnh đóng tại cung dương mà có tuổi âm thì vẫn nghịch lý, cũng vậy, nếu người nữ Mệnh đóng tại cung âm mà có tuổi dương cũng là nghịch lý.
Khái niệm Ngũ Hành có sau khái niệm Âm Dương.
Con người thời bán khai phải vật lộn với thiên nhiên để giành sự sống nên đã tìm nên cái nguyên lý căn bản cấu tạo nên sự vật để tìm cách thống trị thiên nhiên.
Họ tin rằng năm yếu tố chính tạo nên sự vật là: Kim (sắt), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) và đặt tên là Ngũ hành.
Mỗi cung của địa bàn có một hành.
Cung có hành riêng, Mệnh có hành riêng.
Tùy theo năm sinh ta tính được Mệnh thuộc hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, hay Thổ.
Ðể ngắn gọn ta gọi hành của Mệnh là Mệnh.
Cục cũng có hành của Cục. Khi nói hành của cục là ý nói cục thuộc hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ. Ðể ngắn gọn, ta gọi hành của Cục là Cục.
Ngũ hành có thể tương sinh như: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc…
Ngũ hành có thể tương khắc như: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.
Nếu ta coi ngũ hành như năm cánh sao của một ngôi sao, ta có thứ tự sau đây không thay đổi:
Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy, ta thấy rõ những hành nào liền nhau thì tương sinh, còn những hành nào cách nhau thì tương khắc.
Hay là số phận tức là những gì trời cho ta khi ta chào đời. Có thuyết nói Mệnh là Quả của cái
Nhân ta đã gieo từ nhiều kiếp trước.
Mệnh là vùng là vùng đất ta rơi vào lúc lọt lòng mẹ. Vùng đất này săn sóc ta, nuôi nấng ta, tốthay xấu, tùy theo những gì trời đã ban cho ta tượng trưng bởi các sao, đặc biệt là chính tinh.
Là cách ứng xử của ta trong cuộc đời để hưởng phú quí hay chịu thống khổ của kiếp nhân sinh.Thân là Ta, là hành động của ta trước cái số phận trời đã an bài.
Có người nói Mệnh ảnh hưởng con người từ nhỏ đến 30 tuổi còn ngoài 30 thì xem ở thân.Nói vậy không đúng hẳn vì ở con người, cái Mệnh phải luôn luôn đi đôi với cái Thân.
Mệnh suy Thân vượng hay Mệnh vượng Thân suy đều không tốt, phải có Thân Mệnh đều tốt thì mới đẹp cả về tinh thần và vật chất được. Nếu trong hai mà có một xấu thì cả hai cùng xấu.
Cục khác với Mệnh. Cục là môi trường xã hội ta sống từ buổi lọt lòng.Cục có hành của cục như Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cục Kim mang số 4 gọi là Kim Tứ Cục, cục Mộc mang số 3, cục Hỏa mang số 6, cục Thủy mang số 2, cục Hỏa mang số 5. Theo quan niệm xưa, người ta canh cứ vào Ngũ hành để đặt tên Cục. Mỗi Cục chỉ là một con sốcủa Ngũ hành như ta thấy ở trên. Chúng tôi đồng ý với quan niệm này nhưng xin đưa ra một khái niệm mới căn cứ vào vị trí của sao Tử vi trong 12 cung mà ấn định Cục (hoàn cảnh xã hội) của từng người
Thí dụ: Tử vi cư Ngọ là vua ngồi trên ngai vàng. “Ðế cư đế vị”. Tử vi thuộc Thổ, cung Ngọ thuộc Hỏa; hỏa sinh Thổ, hoàn cảnh thuận lợi cho con người, xã hội ổn định, trên dưới nghiêm minh.
Một người có cách Tử vi cư Ngọ, dù Mệnh đóng ở bất cứ cung nào thì Cục vẫn là cách “Ðế cư đế vị”, nên người này sinh hoạt, giao dịch với những người quyền quí đàng hoàng. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong những phần sau.
Nguyệt Quý thuộc họ với Tường Vi, do hơn 15 loại Tường Vi được lai ghép ra nhiều chủng loại khác nhau. Trung Quốc cũng có hơn 600 loài hoa Nguyệt Quý này, hoa nở rất lâu, nên còn có tên là nguyệt Nguyệt hồng.

Trong “Quần phương phổ” có nói Nguyệt Quý là “giục nguyệt nhất khai, tử thời bất tuyệt”. Trong bài thơ “Nguyệt tiết hoa” của Dương Vạn Lý có viết: “Chi đáo hoa vô thập nhật hổng, tử hoa vô nhật bất xuân phong”. Nguyệt Quý vốn được trồng ở Trung Quốc, theo kể rằng: Những năm 80 của thế kỷ 18, Nguyệt Quý đã qua Ấn Độ để đến châu Âu, khi đó có chiến tranh Anh – Pháp, để cho loài hoa Nguyệt Quý do Trung Quốc nhập vào Pháp an toàn do Anh chuyển, hai bên đã đàm phán hoà bình, để bảo vệ loài hoa này.
Người dân Anh đến ngày nay đã coi nó là Quốc hoa, ở các thành phố như Thiên Tân, Thường Châu của Trung Quốc cũng đã coi Nguyệt tiết hoa là bông hoa của thành phố. Bởi vì, Nguyệt hoa bốn mùa đều nở hoa cho nên ngiười dân coi nó như sự tường thuỵ (may mắn), có ý nghĩa “tứ tiết bình an”. Nguyệt Quý và thiên trúc kết hợp lại thành ý nghĩa “tứ tiết thường xuân”.
Bài viết của tác giả Huyền Linh
Người xưa bảo: “Nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền điện” (Ăn uống, cử động đều đã định trước), “Mưu sự tại nhơn, thành sự tại Thiên” (Mưu tính nơi người mà thành bại do Trời).
Người xưa lại bảo “Đức năng thắng số” (Phúc đức có thể thắng số mệnh) “Nhân lực thắng Thiên” (Khả năng con người có thể cải số Trời)…
Hai lập luận trên đây tương đối mâu thuẫn, mà từ lâu chúng ta còn phân vân, không rõ luận thuyết nào đúng hơn, vì mỗi luận thuyết đều có những sự tích chứng minh.
Như bảo số mệnh do Trời thì có những người số chết đói, chết đuối dù có né tránh, rốt cuộc vẫn chết đói, chết đuối.
Còn bảo Đức năng thắng số thì cũng có những trường hợp đáng lẽ phải chết đói, chết yểu, mà nhờ biết tu tỉnh, làm nhiều âm đức, được thoát chết, sống lâu, lại khá giả chẳng hạn.
Vậy luận thuyết nào đúng hơn? Chúng tôi xin có đôi lời góp ý cùng quý bạn.
Số mệnh con người, do đâu?
Con người được hình thành bởi hai phần chính: thể xác do cha mẹ sinh ra và linh hồn tiếp nhận nơi Tạo hóa, và linh hồn là Tiểu Linh-Quang trong khối Đại Linh Quang của Tạo hóa. Vậy con người là một Tiểu Thiên địa, hay một Tiểu Vũ trụ.
Nhưng phải chăng Tạo hóa bất công, khiến con người có kẻ giàu sang, sung sướng, người lại nghèo hèn, khốn khổ, dù cùng sinh ra trên một dãy đất, trong một gia đình, hoặc cùng một năm, tháng, ngày, giờ với nhau?
- Chắc hẳn không phải thế.
Các tôn giáo và hầu hết loài người đều tin rằng có Thượng Đế, Chúa tể Càn Khôn, cầm quyền thưởng phạt muôn loài.
Nhưng tôi trộm nghĩ, tuy Thượng Đế là đấng Chí tôn, quyền năng vô tận, nhưng cạnh Ngài còn có một cái “Luật” mà Lão Tử tạm dùng chữ “ĐẠO” để gọi, đó là luật Trời, hay Thiên lý, mà Thượng Đế tùng theo, để điều hành vũ trụ (cũng như một Quốc gia, tuy vị Nguyên thủ là trên cao nhưng vẫn phải tuân hành Hiến pháp).
Do đó, sở dĩ có kẻ sướng người khổ là do số mệnh an bài, nhưng số mệnh chẳng phải do “ông Trời” hay các vị Thánh Thần sắp đặt, cho người này giàu, bắt người kia nghèo mà là do “NGHIỆP” (Karma) của chính con người, tức luật Nhân quả.
Nghiệp và luật Nhân Quả
Không ai có thể biết được con người có từ bao giờ, trải qua bao nhiêu kiếp, nhưng theo thuyết luân hồi thì hẳn đã quá nhiều!
Mỗi kiếp, con người đã làm bao nhiêu điều lành lẫn điều dữ, phước có, tội có năm này tháng nọ chất chồng, có khi chưa chịu thưởng phạt đúng mức đã mãn số, lại luân hồi kiếp mới để “trả đũa” cũ và lại tạo thêm “Nhân” mới.
Bởi thế mà trong lá số Tử Vi của một người, có những sao tốt, sao xấu lẫn lộn, cung này cung nọ liên quan chằng chịt nhau, biểu hiện cái “Nghiệp” của người ấy, trông cây gì được quả nấy, như bóng với hình, mà trong đó Vận hạn là con đường bắt buộc cá nhân phải trải qua để trả Nghiệp cũ (thưởng lẫn phạt), đồng thời tạo Nghiệp mới.
Nghiệp có lành có dữ thì Vận số có tốt có xấu. Vận tốt thì được thụ hưởng giàu sang sung sướng, vận xấu thì chịu nghèo hèn, hoạn nạn nhưng cán cân nghiệp lành, nghiệp dữ không đều, thì vận số cũng không đều nhau, do đó Họa và Phúc lẫn lộn hoặc nhiều hoặc ít, chẳng hạn tuy giàu sang mà đau ốm, vợ chồng căn đắng, con cái hư hỏng, hay ngược lại tuy nghèo hèn mà ít nạn tai, vợ chồng hòa thuận, con cháu hiếu thảo….
Cải số mệnh được không?
Như đa trình bày ở trên, thì số mệnh đã an bài do nghiệp của nhiều tiền kiếp, hễ vay ắt phải trả, cho nên số mệnh con người như đã được lồng vào một cái khung và vận hạn ví như một con đường duy nhất, bắt buộc con người phải đi qua, một lộ trình vạch sẵn.
Bởi vậy trên nguyên tắc, số mệnh là số mệnh, khó mà cải đổi được cái căn bản, tức cái khung của số mệnh, hay là những “nghiệp lớn”.
Nghĩa là nghiệp cũ phải trả, dù thụ hưởng hay bị hình phạt. Do đó chúng ta thấy có những người hung ác mà vẫn giàu sang, phè phỡn, còn người hiền lương, tu niệm, làm phúc lại cứ gặp hoạn nạn, là vì nghiệp cũ chưa “thanh toán” xong, mà “Nhân” mới chưa kịp có “hiệu lực”.
Tuy nhiên, con người có thể cải được một phần số mệnh vận hạn của mình, nhưng rất ít, hơn nữa, chẳng phải ai cũng có khả năng hoán cải, dù có cải cũng chỉ cải được vận số nhỏ, tức các nghiệp nhỏ thôi. Cũng ví như “cái khung” vẫn y nguyên, mà “cái cảnh” có thể thêm hoặc bớt. Đó là tạo “nhân” (tốt xấu) mới để bù đắp “quả” (xấu tốt) cũ.
Tôi xin đơn cử vài ví dụ, nếu dễ cải được số thì thuở xưa Văn Vương đã chẳng bị giam cầm 7 năm nơi Dũ Lý, Khương Tử Nha chẳng đợi đến 70 tuổi mới đặng công hầu. Tôn Tẫn khỏi bị chặt chưn và bảo vệ nước Yên khỏi bị Tần thôn tính. Khổng Minh thống nhất được giang sơn thời Hớn mạt. Hạng Võ và Hàn Tín đều anh hùng. Hạn xấu đến, đều chết thảm; lại như Lương Võ Đế cất 72 ngôi chùa mong cải số, rốt cuộc vẫn chết đói ở Đái Thành.
Ngay thế kỷ hiện tại, những nhân vật muốn xoay thời tạo thế, đem tài trí đấu tranh, mà không thuận với cơ trời rồi ra vẫn thất bại.
Chính tôi, sau gần 20 năm xem tướng số đã được chứng kiến nhiều trường hợp, có những người, sau khi đoán là vận hạn xấu, tôi khuyên nên an phận, chớ mưu sự to, liều lĩnh mà thất bại hoặc gặp nạn. Mặc dù tin số mạng song họ tự tin, cố đem tài sức, mưu trí (xin lưu ý là tài sức chứ không phải Đức) chống lại số mệnh, mà càng hoạt động to lớn, càng sa lầy hơn.
Lại có những trường hợp, khách xem về các sự việc bình thường hằng ngày, để biết thành bại, đắc thất, sau khi gieo quẻ Dịch, quẻ ứng xấu, tôi bảo thẳng với khách là không hy vọng gì… khách buồn bã ra về, dùng mọi phương tiện, mưu mẹo, kể cả tiền bạc, cố xoay sở, nhưng rồi vẫn không kết quả, (vì hoàn cảnh không thuận lợi, được cái này hỏng cái kia, như định mệnh khiến xui như vậy) rốt lại số vẫn là số!
Cải số bằng cách nào?
Theo thiển ý riêng tôi thì có thể tạm chia thành 2 phương thức: “tiêu cực” và “tích cực”
- Về “tiêu cực” thì tương đối đơn giản hơn, có nghĩa ăn ở và hành động thuận theo số mệnh và Thiên Lý. Không gieo gió thì khỏi gặt bão. Khi gặp vận tốt thì nương đó tiến lên để thành đạt. Lúc gặp vận xấu thì chớ liều lĩnh, làm bạo, thấy hao tài thì chớ cho vay mượn, thấy đau ốm thì gìn giữ sức khỏe, thấy nạn tai thì tránh xe cộ, sông nước, thấy thị phi quan sự thì nên nhẫn nhịn, tránh phạm pháp…Tuy đến Năm, Tháng, Ngày, Giờ đó, vẫn bị hạn, song có thể nhẹ bớt ít nhiều.
Như có một tuổi Tân Mùi, thường nhờ tôi đoán số, đầu tháng 4 năm rồi, tôi có xem cho ông và đoán rằng khoảng giữa tháng ông có tai nạn nhẹ, độ hơn tuần lễ sau, ông đến nhà tôi với mấy vết băng ở mặt và tay chân. Hỏi ra mới biết ông vừa ngộ nạn vì xem Lam lật, bị xây xát cả người.
Ông nhờ tôi xem tiếp coi còn xui rủi nữa không? Tôi gieo quẻ Dịch, lần này quẻ ứng bổn mạng cũng xấu, e còn tai nạn nữa. Ông nhờ tôi đoán kỹ xem ứng vào ngày x tháng x…sau đó ít lâu ông lại đến, khen tôi đoán rất đúng và thuật rằng: “Chính cái ngày ấy, ông cố ở nhà suốt ngày, không ra khỏi cửa, 8 giờ tối ông giăng mùng đọc báo, kể như yên ổn. Nhưng đến 10 giờ đêm, trước khi ngủ, ông xuống nhà sau đi tiểu, bất ngờ trợt chân ngã té nằm sóng sượt bất tỉnh dưới đất, may người nhà hay kip đỡ lên xoa bóp, mấy phút sau mới tỉnh.
Ông kết luận “tưởng ở nhà yên thân, té ra cũng bị! Nhưng may là ở trong nhà chỉ bị xoàng, chứ nếu ngoài đường sá, chắc nặng hơn, chưa biết tới đâu”. Còn nhiều trường hợp tương tự, kể ra e chán ngấy.
- Về phương diện “tích cực” phức tạp hơn, nhưng tựu trung là cố gắng làm nhiều việc “Âm đức” để hóa giải các nghiệp nặng. Nhưng phải thật thành tâm, đầy thiện ý, hành động một cách tự nhiên theo lương tâm không tính không vụ lợi, không cầu danh, thì việc làm tuy nhỏ mà có khi Âm đức lại to.
Chớ không phải ỷ có nhiều tiền, vung tiền của phi nghĩa ra, gọi là bố thí, làm phước, để được khen ngợi, ca tụng, hoặc giả làm lấy có, lấy lệ, cúng chùa, lễ Phật, giải sao hạn…tuy là những việc làm có tánh cách từ thiện, cũng hay, cũng là những “Nhân” lành, song chưa thể gọi là “Âm đức” được. Vì Tạo hóa chí công vô tư, hẳn không vì nhiều tiền mà cho nhiều phúc, còn ít tiền lại cho ít phúc hay sao?
Tôi xin đơn cử vài việc làm có tánh cách Âm đức. Như thấy vợ chồng người ta xích mích, định lìa bỏ nhau, mình cố công khuyên bảo, trợ giúp cho họ hòa hiệp, sống chung lại; Thấy người chết đuối, mình chẳng ngại nguy hiểm, cứu vớt người ta sống lại; Thấy người nguy ngặt, động lòng trắc ẩn, mình tận tâm giúp đỡ, có bao nhiêu giúp bấy nhiêu, mà không nghĩ đến sự đền bồi, hay được người ca tụng…như thế mới gọi là “Âm đức”, có tác động mạnh đến “Nghiệp”, cảm động lòng trời, mới có ảnh hưởng ngay vào số mệnh và vận hạn (Như tích ông Lê Bùi Độ đời Đường trả đai ngọc cho người, chuộc mạng cha, chẳng hạn).
Một vài phương thức khác
- Nhờ Đức tin và lòng thành, tức những người tiền căn, hiện kiếp có sự liên quan, giao cảm với cõi Trung giới hay cõi Âm, nay vận hạn tuy xấu, gặp hoạn nạn, nhưng ăn ở hiền lương, ngay thật, lại có đức tín và lòng thành khắc được Thánh Thần và các vong linh quá vãng phù trợ, thấy dữ hóa lành.
- Mồ mả tổ tiên, phúc đức hay tội lỗi của ông bà cha mẹ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến vận số con người. Ví dụ: vận hạn đang xấu, có ông cha quá vãng mà an táng nơi đất kết phát thì có ảnh hưởng tốt. Hoặc biết con cái số phải long đong mà cha mẹ biết làm phúc chứa đức thì con cái được nhờ, sớm thì hiện tại, chậm thì tương lai.
- Ngoài ra, vấn đề chỗ ở, nhà cửa, bếp núc cũng có ảnh hưởng một phần vào vận số con người. Chẳng hạn như số mệnh đã tốt mà chỗ ở được vùng đất tốt, nhà cửa bếp núc day đúng phương hướng với mạng, thì sự tốt tăng thêm. Nếu vận hạn xấu mà dời chỗ ở cho hạp phong thổ, nhà, bếp day hướng tốt hạp với cung Mạng của mình thì cũng đỡ được khá nhiều.
Để tạm kết luận bài này, tôi xin thưa cùng quý bạn rằng: Chúng ta nằm trong “quỹ đạo” của Nghiệp, chi phối bởi số mệnh, cho nên số - mệnh vẫn là số mệnh. Chúng ta tìm hiểu số mệnh để ăn ở, hành động hợp với số mệnh hay Thiên lý, để lánh dữ tìm lành.
Chúng ta đừng tự phụ bảo rằng cải được số mệnh bằng tài sắc và mưu trí, đã vô ích mà còn nặng nghiệp hơn đấy!
Nếu chúng ta có một định số kém sáng sủa, chúng ta cũng chớ quá bi quan, phó mặc Hóa công, tới đau hay đó, rồi cái gì cũng Số, cái gì cũng Mệnh! Không làm gì cả, cũng vô ích. Mà chúng ta phải cố công bồi tu Âm đức để hóa giải Nghiệp cũ (tùy theo cán cân Đức và Số).
Ví dụ phúc đức tạo ra chưa đủ đền bù Nghiệp cũ quá nặng, chúng ta có thể hãnh diện rằng đã giep được “Nhân” lành, mà khi Nghiệp cũ trả xong chắc chăn “Quả” lành sẽ đến.
Cũng xin lưu ý quý bạn là chính ta mới có thể tự cải số chung ta mà thôi. Ngoài ta ra không ai cải số giùm ta được, kể cả các đấng vô hình.
Vậy quý bạn hãy suy ngẫm kỹ về cúng kiến, lễ bái, cầu đồng cốt hay dùng bùa phép. Có dịp, tôi xin trở lại với những đề tài mới
KHHB số 74C2
“Coi văn phòng là nhà” đã trở thành cách miêu tả sinh hoạt chân thực của những dân làm công ăn lương ở những thành phố hiện đại. Trong trường hợp kinh tế không sáng sủa, phát sinh sự cắt giảm nhân viên thì làm sao có thể khiến cho bản thân giữ được chỗ làm một cách chác chắn yên ổn, thậm chí nhẹ bước trên mây, trở thành vấn đề rất quan tâm của các viên chức văn phòng. Thực ra, trong văn phòng, những người quan vận hưởng thông ngoài thực lực của bàn thân, phong thủy của văn phòng cũng rất quan trọng
Trong văn phòng làm việc vị trí nào, hướng phong thủy nào là tốt nhất? Những vị trí nào tương đối lý tưởng? Nhất thiết đừng nói bạn không mê tín, ngay cả trong sách cổ của Trung Quốc “Kinh Dịch” củng đã từng vẽ ra những biến hoá diệu kỳ của hung cát phúc họa như một lời dự báo, để cài biến vận mệnh.

Người xưa có nói “dương trạch phong thủy” là chỉ “môi trường sinh hoạt thường ngày của con người”, đối với những nhân viên công chức, môi trường văn phòng chính là “chức trường dương trạch”. Một có thể “chế nhân” lại không “chịu chế của người khác”, là phong thủy tốt nhất của chức trường (nơi làm việc). Cũng chính là vừa nhìn có thể hiểu rõ được nhất cử nhất động của con người, lại có thể bảo vệ vị trí ẩn tránh của bản thân. Điều này cũng phù hợp với chiến lược trong binh pháp “tiến khả cung, thoái khả thủ”, cho nên phần lớn những ông chủ hoặc chủ quan đều nhắm cho mình những vị trí thuận lợi.
Còn với những viên chức bình thường thì rất ít có cơ hội ngồi ở những vị trí “vừa nhìn là thấy hết” này, điều này cũng không có trở ngại, quả thực trong vòng tròn của vị trí ngồi mỗi người, cũng có thể tạo ra không gian có lợi cho mình. Đầu tiên cần phải bảo đảm trong lòng không phải chịu những phiến nhiễu, hơn nữa có thể khiến cho tư duy nhanh chóng, tập trung, đầu óc minh mẫn để suy nghĩ. Vậy thì, môi trường như thế nào không có lợi cho những yêu cầu ở trên?
Phía trước có gương soi – để ảnh hưởng giao cảm thần kinh, khiến tư duy không thể tập trung trong thời gian dài.
Lưng không có “khao sơn” (sau lưng là lối đi hoặc cửa sổ thủy tinh) – trong lòng khó có thể yên tĩnh.
Đối diện với phòng vệ sinh hoặc đối diện với cửa chính – có cảm giác không vui và giao tiếp với mọi người dễ dẫn đến thần kinh phân tán.
Những vị trí kể trên là không có lợi cho việc phát huy sở trường, nhưng nhỡ không may bạn bị sắp xếp ở những chỗ như thế, thì cũng không nên lo lắng, có thể dùng một số phương pháp nhỏ để cải thiện.
Ví dụ: (1) Dùng một vài vật để che lấp (như những bồn hoa) để che đi tầm nhìn.
(2) Lợi dụng tựa ghế cao để tăng thêm cảm giác an toàn.
(3) Có thể tăng thêm trước cửa những rèm che đi.
Nói tóm lại, tăng cường cảm giác ổn định khi cơ thể con người tiếp xúc với môi trường, tương đương với việc nâng cao hiệu quả làm việc của hạn.
Nữ mệnh sinh năm 1997 tuổi con Trâu năm Đinh Sửu, thuộc cung Ly mang Giản hạ Thủy.

Tuổi Đinh Sửu tiền vận có nhiều vất vả buồn thương, qua trung vận mới được nhiều may mắn trong cuộc đời. Bổn mạng được nhiều tốt đẹp về vấn đề tình duyên lẫn tài lộc, hậu vận thì mới có kết quả và mang nhiều tốt đẹp cho cuộc đời, hy vọng sẽ có những thành công lớn về hậu vận, số sung sướng vào hậu vận, cuộc sống được bảo đảm và đầy đủ.
Tóm lại: Cuộc đời của nữ mệnh từ nhỏ vất vả, vào trung vận mới được hy vọng về tiền bạc, hậu vận mới được sung sướng an nhàn.
Về vấn đề tình duyên, bước đầu nhiều trở lực, không có một quyết định dứt khoát, nên thường hay bị lừa đảo trong chuyện tình cảm, làm cho cuộc sống đôi khi buồn khổ.
Vấn đề tình yêu của tuổi Đinh Sửu có ba trường hợp như sau:
Nếu bạn sinh vào tháng này thì cuộc đời phải có 3 lần thay đổi về tình duyên và hạnh phúc, đó là bạn sinh vào những tháng 4, 9 và 12 âm lịch. Nếu bạn sinh vào những tháng này thì cuộc đời bạn phải có hai lần thay đổi về tình duyên và hạnh phúc là khi bạn sinh vào những tháng 1, 2, 5, 8 và 10 âm lịch. Và nếu bạn sinh vào tháng 3, 6, 7, và 11 âm lịch thì bạn hoàn toàn được hưởng hạnh phúc, không có thay đổi về tình duyên.
Đó là về vấn đề tình duyên, còn với hôn nhân gia đình thì bạn nên lựa chọn những tuổi hợp với mình để kết hôn. Khi lựa chọn được những người hợp tuổi thì không những đường tình duyên của bạn được thuận lợi mà cả về tài lộc và sự nghiệp của bạn cũng phát triển hơn. Bạn nên lựa chọn những bạn nam tuổi sau đây để kết hôn: Mậu Dần (1998), Canh Thìn (2000), Giáp Thân (2004).
Nếu bạn sinh vào những tháng 1, 2, 4 và 5 âm lịch thì bạn cần phải cẩn thận trong việc lập gia đình mới có thể thành công toàn vẹn được.
Phần gia đạo có nhiều điều hay đẹp và không có gì xảy ra quan trọng trong cuộc đời. Nếu có công danh thì cũng chỉ ở mức độ bình thường, không phát triển được.
Sự nghiệp có thành công sớm hay muộn là do ở sự siêng năng và kiên nhẫn của bạn, vì cuộc đời còn phải trả qua sự tương hợp của bấn đề tình duyên. Như riêng về cá nhân thì hoàn thành sự nghiệp một cách khó khăn, phải ở tuổi 30 thì mới có sự nghiệp tốt đẹp. Tiền tài vừa đủ, không giàu sang phú quý, những cũng không thiếu hụt, tiền bạc chỉ ở mức độ trung bình không có mức dư giả.
Từ năm 20 tuổi đến năm 25 tuổi:
Năm 20 tuổi được khá về đường tài lộc và tình cảm. Năm 21 tuổi có bệnh tật, kỵ tháng 6 và tháng 7, nên cẩn thận trong hai tháng này, những tháng khác thì bình thường. năm 22 tuổi, năm này có phát triển về tài lộc và tình cảm được lên cao, toàn năm đều tốt. Năm 23 tuổi không nên đi xa, làm ăn nên cẩn thận nếu không thì tiền bạc sẽ thất thoát, năm có kỵ tuổi, nhất là những thangs1, 5, 7 và 10 âm lịch. Năm 24 tuổi, năm này rất tốt cho việc làm ăn, có lợi nhỏ và tháng 12 thì đại lợi. Năm 25 tuổi năm này cũng phát đạt về việc làm ăn, tài lộc khá dồi dào, toàn ăn thắng lợi nhiều hơn hại trên mọi lĩnh vực. Suốt thời gian này tình cảm ở mức trung bình không có gì đáng nói.
Từ năm 26 tuổi đến năm 30 tuổi:
Năm 26 tuổi, có kỵ tháng 3 tháng 4 có hao tài đôi chút, những tháng khác trung bình. Vào năm 27 tuổi khá tốt đẹp, có phát triển về đường tài lộc lẫn sự nghiệp đều tốt. Năm 28 tuổi năm này nên làm những việc gia đình, không nên giao dịch tiền bạc cũng như không nên làm ăn lớn. Năm 29, 30 tuổi hai năm này bình thường không có gì quan trọng xảy ra.
Từ năm 31 đến năm 35 tuổi:
Năm 31 tuổi, nên cẩn thận sẽ có đau nặng hay trong gia đinh có tang khó, năm này làm ăn không được khá. Năm 32 tuổi, năm này làm ăn không được tốt nhưng không có hao tài tốn của, tài lộc vẫn bình thường. Năm 33 tuổi, năm quá xấu cho bổn mạng và tuổi, năm này kị đi xa hay làm ăn về tiền bạc. Năm 34, 35 tuổi hai năm này đều tốt, có hoạnh tài vào năm 34 tuổi. Năm 35 tuổi nên cẩn thận việc gia đạo một chút, việc làm phát triển tốt.
Từ năm 26 đến năm 40 tuổi:
Tuổi 36 được tốt. Năm 37 tuổi có nhiều dịp may đưa đến, nên hùn hạp nay buôn bán thì tốt nhất. Năm 38, 39 tuổi có cơ hội thuận tiện cho sự phát triển nghề nghiệp và công danh lẫn tình cảm. Năm 38 tuổi kỵ vào tháng 9. Năm 39 tuổi kỵ tháng 2, hai tháng của năm, nên tránh đụng chạm tình cảm bất lợi. Năm 40 tuổi thì trung bình, tài lộc điều hòa, tình cảm hơi có rắc rối những rồi cũng ổn định.
Từ năm 41 đến năm 45 tuổi:
Khoảng thời gian này rất tốt đẹp về phần gia đạo, nên cần lo cho bổn mạng, nếu đi mua bán hay làm ăn có tính cách tiền bạc nên coi thường. Những năm này không nên đi xa, hãy xuất hành theo như trên thì tốt.
Từ năm 46 tuổi đến năm 50 tuổi:
Thời gian này cố tạo lấy một cuộc sống đầy đủ cho con cái thì hơn. Sẽ có nhiều dịp may đưa đến về phần tiền bạc và tình cảm. năm 47 tuổi thường đau bệnh, những năm khác bổn mạng vững.
Xem thêm sao chiếu mệnh của tuổi Đinh Sửu qua các năm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)